Feeds:
Bài viết
Bình luận

Lời cám ơn

Hân hạnh chào đón bạn đọc,

Chân thành cám ơn các tác giả đã cho phép chúng tôi sử dụng bài viết, thơ, truyện, nhạc, tranh vẽ, ảnh chụp,…trên Blog này;

Chân thành cám ơn trước những tác giả mà chúng tôi chưa liên lạc, nhưng đã mạn phép* quý vị đưa bài, hình ảnh, tranh vẽ, ảnh chụp,…giới thiệu đến bạn đọc;

Mến chúc quý vị và quý bạn sức khoẻ, bình an,

Trân trọng,
Sầu Đông  Nguyễn Thọ Chấn
Vườn trước nhà 06 2010 001rsz15
* Trong trường hợp quý vị có những điều cần lưu ý, xin vui lòng cho biết qua điện thư. Chân thành cảm ơn quý vị.

Advertisements

‘Lòng dân, thế nước’ và… tháo chạy

Trân Văn

Tuần trước, khi chúc Tết đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ở nước ngoài, ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng CSVN khẳng định: “Không phải ngẫu nhiên mà một không khí phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sức mạnh của dân tộc, vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang lan rộng và có tác động mạnh mẽ trên khắp cả nước”.
Tết âm lịch năm nay, thêm một lần nữa, ông Trọng lặp lại yếu tố, nhờ sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối và tài tình, sáng suốt của Đảng CSVN, “lòng dân, thế nước” đều đang thăng hoa.

Tuần này, ngay trong những ngày đầu tiên của năm Mậu Tuất, báo chí Việt Nam tiếp tục đề cập đến hiện tượng doanh giới Việt Nam ồ ạt chuẩn bị cho việc tháo chạy khỏi quê hương của mình. Tờ Đất Việt – Diễn đàn của Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam – lưu ý rằng, khác với trước, lúc này, các doanh nhân Việt Nam không còn “kén cá, chọn canh” như trước, việc tìm kiếm quốc tịch thứ hai cho chính họ và gia đình không chỉ khoanh lại trong phạm vi những quốc gia giàu, mạnh, phúc lợi tốt mà hướng cả vào những quốc gia nhỏ bé, ít ai biết và phần lớn vì từng là thuộc địa của cường quốc nào đó nên chuyện đến, cư trú, học hành, làm việc ở những nơi từng là “mẫu quốc” sẽ dễ dàng hơn.

Tháo chạy khỏi Việt Nam là một phong trào xuất hiện cách nay hàng chục năm. Giờ, tháo chạy khỏi Việt Nam đã trở thành xu thế, càng lúc càng mạnh mẽ và lan rộng từ doanh giới, trí thức, sang tới các viên chức của hệ thống công quyền Việt Nam.

Ở một kỳ họp Quốc hội diễn ra vào tháng 4 năm 2016, ông Trương Trọng Nghĩa, thành viên của Đoàn Đại biểu Quốc hội Sài Gòn, cảnh báo tình trạng, sau khi tu nghiệp, trí thức giỏi không muốn quay về Việt Nam làm việc, doanh nhân thành đạt muốn ra đi và một bộ phận viên chức đương nhiệm hay đã về hưu cũng tìm cách định cư ở ngoại quốc… là bằng chứng Việt Nam không còn là nơi đáng sống!

Cũng vào thời điểm đó, bà Phạm Chi Lan, một chuyên gia kinh tế, nói thêm, tình trạng người Việt tìm đủ mọi cách, lũ lượt dắt díu nhau bỏ xứ ra đi là vì họ cảm thấy bất an về đủ mọi mặt. Nếu không thể ngăn chặn xu thế tháo chạy khỏi Việt Nam, Việt Nam sẽ mất nhiều thứ: Chất xám, vốn liếng, nhân lực có kinh nghiệm tổ chức sản xuất – kinh doanh. Theo bà Lan, phương thức duy nhất để có thể hóa giải khuynh hướng tháo chạy, ồ ạt lìa bỏ nơi “chôn nhau, cắt rốn” của mình là gầy dựng lại niềm tin vốn đã suy giảm tới mức mà bà Lan nhận định là “rất lớn”.

***

Có một điểm trớ trêu là từ ngày ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng CSVN, mạnh miệng khẳng định rằng tự do, dân chủ ở Việt Nam “đến thế là cùng”, rằng “vị thế của Việt Nam” trên thế giới chưa bao giờ được như hiện nay thì tháo chạy khỏi Việt Nam càng lúc càng mãnh liệt.

Tháng 7 năm 2016, Hội đồng Bầu cử Quốc gia thông báo tước bỏ tư cách Đại biểu Quốc hội khóa 14 của bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường (Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Đầu tư TNG Holdings VN, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội khóa 13, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Công Thương thành phố Hà Nội, Phó Ban Đối ngoại của Hội đồng Nữ doanh nhân thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Nữ doanh nhân Việt Nam) vì phát giác bà Hường đã có quốc tịch của Malta mà không khai báo.

Sự kiện một người như bà Hường, chọn Malta – quốc gia nhỏ xíu ở Nam Âu, diện tích chỉ có 316 cây số vuông, dân số chỉ chừng 400.000 người – để thực hiện các thủ tục cần thiết nhằm có thể thủ đắc tư cách công dân của quốc gia này nói lên nhiều điều…

Chưa hết, giữa năm ngoái, báo chí Việt Nam đồng loạt công bố một thống kê của Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB), theo đó, Việt Nam là một trong mười quốc gia trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương dẫn đầu về số lượng bỏ xứ ra đi. WB ước tính, mỗi năm có khoảng 100.000 người rời khỏi Việt Nam.

Vietnam Report cũng công bố một thống kê sau khi khảo sát Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam hồi 2016 và cho biết, khoảng 45% “khát khao” đầu tư ra nước ngoài trong vòng năm năm tới. “Đầu tư ra nước ngoài” là một cụm từ hoa mỹ để doanh nhân Việt Nam thay đổi nơi cư trú và chuyển dịch tài sản ra khỏi Việt Nam. Báo chí Việt Nam dẫn nhận định của những chuyên gia tư vấn định cư, cho biết, mỗi năm, riêng nhóm doanh nhân “đầu tư ra nước ngoài” đã mang ra khỏi Việt Nam từ 10 tỉ đến 12 tỉ Mỹ kim. Nỗ lực trị giá hàng chục tỉ Mỹ kim/năm này chỉ nhằm “đổi màu hộ chiếu”.

***

Tuần trước, vào thời điểm mà ông Trọng khẳng định, “lòng dân, thế nước” đang thăng hoa và “không khí phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sức mạnh của dân tộc, vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang lan rộng và có tác động mạnh mẽ trên khắp cả nước”, ông Mai Hữu Tín, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Đầu tư U&I, Chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp tỉnh Bình Dương, cựu Đại biểu Quốc hội hai khóa 12 và 13, nói với tờ Vn Economy rằng, dẫu hệ thống công quyền Việt Nam hứa hẹn đủ thứ nhưng ông vẫn chưa thấy lạc quan, tình trạng doanh nhân Việt Nam thi nhau lấy quốc tịch thứ hai vẫn rất phổ biến, khuynh hướng bi quan tìm một con đường sống khác, làm việc ở nơi khác vẫn mạnh mẽ.

Nếu ông Trọng đúng khi khẳng định về “tự do, dân chủ”, “vị thế quốc gia”, “lòng dân”, rồi “không khí phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sức mạnh của dân tộc, vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang lan rộng và có tác động mạnh mẽ trên khắp cả nước”… thì những người ưu tư về tương lai quốc gia, vận mệnh dân tộc như ông Nghĩa, bà Lan, ông Tín hoặc tìm đủ cách để tháo chạy như bà Hường rõ ràng là… không bình thường.

Còn nếu những người này thật sự bình thường thì dường như ông Trọng đã cố tình vi phạm một trong năm điều ông Hồ Chí Minh răn dạy thiếu nhi: Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm!

Đã khởi xướng, đốc thúc phong trào “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” ai lại làm thế!

  • 16x9 Image

    Trân Văn

    Trân Văn là bút danh của một nhà báo có 28 năm làm việc ở nhiều vị trí khác nhau (Cộng tác viên, Phóng viên, Biên tập viên, Thư ký Tòa soạn) của một số đài truyền hình, đài phát thanh, nhật báo, tuần báo, báo điện tử tại Việt Nam và Hoa Kỳ.
    _________________________________________________________________________________
    Nguồn: VOA tiếng Việt

Đôi giòng:
Truyện ngắn gây xúc động của Uyên Lê trên Hợp Lưu. Đọc truyện, thấy như người từ ‘đất khổ’ dù có đi tới chân trời nào, dù hoàn cảnh sinh hoạt chung quanh có khác xa nơi quê xưa thế nào, thì…cũng vẫn khổ!!

LÀNG ĂN MÀY VÀ MẪU BÁNH MÌ CŨ

UYÊN LÊ

UYEN LE -Truyen thang 12
Uyên Lê – SG 2017

Bà bác dâu đón tôi ở phi trường Trudeau, không phải bà cô ruột. Tôi đã mong đợi bà cô ruột.

Bố tôi có hai bà cô, một là cô ruột và bà bác dâu. Từ lúc tôi chào đời đã có hai bà ở đó, Tôi vẫn quen gọi bằng bà dù hai bà còn khá trẻ. Ông cố tôi nhiều vợ, lắm thiếp, lại đẻ dày, đến nỗi con và cháu nội ra đời cách nhau không xa lắm.

Quê bố tôi ở Hương Sơn Hà tĩnh, mảnh đất cuối Bắc, đầu Trung, nửa núi, nửa đồng bằng, người nói giọng trọ trẹ, nửa thị và quá nửa quê, mà quê đá, quê núi, quê cằn, quê cỗi, quê không có đất để cày, có trâu để cưỡi. Bà bác dâu vẫn hay kể cho tôi nghe như vậy.

Không gian phi trường Trudeau cũ mèm, trên nềm thảm cũ màu tối, đèn đêm mờ tối, chuyến bay 12 giờ đêm làm những con người lơ láo chung quanh cũng xuống màu, nhàu nát, cũ kỹ,  bà đứng đó lặng im nhìn tôi, không ôm vồ vập,  áp môi hôn một bên má như kiểu Tây gặp nhau, đôi mắt đen sắc như hai đường chì kẻ mảnh, nhìn trực diện vào mặt người đối diện, miệng mơ hồ như cười như không, làn da trắng xanh mỏng như giấy lụa bóng.

Cả nhà, cả họ hàng ai cũng sợ bà vì nhan sắc lạnh lẽo này.

Trừ tôi và bố tôi. Bố tôi bảo cả họ nhà bố tôi nợ bà nhiều thứ, và bố tôi ra sức mà trả để không dây dưa qua kiếp sau. Tôi chỉ biết tôi vừa yêu bà, vừa nể, vừa sợ.

Bà tự tay lái xe đưa tôi về nhà, vẫn lặng im không nói gì nhiều. Ngôi nhà bằng gỗ, lọt thỏm giữa khu rừng cây lá kim dày đặc, trời mùa hè nên 10 giờ vẫn còn sáng rực, chỉ có hơi ẩm bắt đầu len qua nhánh lá thông, lọt vào khung cửa lưới.

Bà cô ruột từ trong nhà ào ra, tóc bạc trắng, vừa khóc vừa cười, tíu ta tíu tít. Và ngay lập tức tôi được ôm ấp, hôn hít chầm chập vào cổ, vào má, kèm theo bao nhiêu là rên rỉ, sờ sẫm suýt soa. Và mùi hương người già, trong giá lạnh, phả ra héo hắt mốc thếch, bao vây lấy tôi.

Đây là bà cô ruột của tôi rồi, đúng tính chất của họ Lê nhà tôi rồi, vồ vập, hối hả thắm thiết đấy mà lợt lạt, hời hợt, bạc bẽo ngay đấy!

Giữa chừng cái ôm ra rít, thắm thiết, bà cô ruột chợt vụng trộm  thầm thì vào tai tôi,

– Con có để dành bánh mì cho bà không?

Vì bố tôi đã dặn dò rất kỹ lưỡng, nên tôi lật đật lục tung túi xách, đưa ngay cho bà một túm bánh mì phần ăn trên máy bay, và hớn hở: – Có ngay đây bà ạ!

Mắt bà cô ruột sáng lóe lên rồi đờ dại hẵn đi, như chạm vào giọng nói đều đều lành lạnh của bà bác dâu  xuyên qua căn phòng rộng:

– Bà lại xin bánh mì nữa à?

– Tôi thấy thèm bánh mì- bà cô ruột cúi gằm đầu, tiếng nói lí nhí như thoát ra từ đôi vai rụt.

– Thế những thứ này là gì?

Bà bác dâu giựt mạnh tất cả các cánh tủ bếp trên đầu, một trận mưa bánh mì rào rào rơi xuống, bánh mì đen, bánh mì trắng, bánh mì sandwich, bánh crossant còn nửa cái, bánh mì vòng còn nguyên vẹn, bánh mì baguette chỉ còn  lại cùi nhọn hay mẩu vụn, và vô số bánh mì tròn bằng lòng bàn tay từ phần ăn của các hãng Airlines tuôn xuống, không ngừng.

Mặt bà cô ruột của tôi chuyển sang nhăn nhúm rồi trắng bệch, bà gào lên bằng tất cả hơi sức của mình, gân cổ căng ra đỏ tía:

– Bà làm nhục tôi thế này vì bà thù tôi, bà đã  hận tôi suốt đời bà.

– Vì lẽ gì tôi phải hận bà? Tôi đem bà về đây nuôi khi con của bà bỏ bà vào nhà dưỡng lão- bà bác dâu vẫn không thay đổi giọng nói.

– Vì cái làng ăn mày của nhà bà. Vì chúng tôi cứu bà từ cái làng ăn mày đấy!

Bà bác dâu lặng lẽ đi lên cầu thang, lưng vẫn thẳng, đầu ngẩng cao như không hề nghe thấy gì. Đến bậc đá cẩm thạch  đen tuyền cuối cùng, bà đứng sững người, không quay đầu lại, ném vào không gian lặng ngắt từng từ một, không âm sắc:

– Cái làng ăn mày đó, tôi quên hẳn rồi. Nó chỉ còn sống trong đầu bà thôi. Trong nỗi sợ của bà, trong nỗi ám ảnh sợ đói của bà.

Bà cô ruột của tôi khóc, khóc rấm rứt trong khi cùng tôi thu dọn đống chiến trường ngổn ngang bánh mì cũ khô mốc, nhét đầy lại trong ngăn tủ bếp.

Đầu óc tôi quay cuồng, ngay lúc ấy, tôi chỉ nghĩ về làng ăn mày. Làm sao bà ấy lại có thể quên được làng ăn mày? Và trên cái nền của sắc màu vàng vọt kỳ ảo nửa đêm trắng, trong không gian sặc mùi mốc xanh lên meo nấm của bánh mì, tôi nhớ về quê cha tôi, tôi nhớ về bài học lịch sử đầu tiên qua những nốt đậu mùa chi chít trên mặt bà bác dâu.

Tôi gọi đó là “bài học lịch sử đậu mùa”

Từ bé tôi đã mê mẩn môn lịch sử. Tôi khám phá ra niềm phấn khích lạ kỳ, nỗi đam mê rợn chân tóc, và tò mò lâm râm dưới làn da khi lật trang sách sử, dù đôi khi chỉ là ngày tháng lạnh lẽo, cộc lốc, những tên người, tên đất, tên miền, tên sự kiện lầm lũi nối tiếp nhau như ảnh mờ chạy chậm trên màn hình đen trắng, như dợm một bước chân vào sau tấm gương đồng mở lối vào đường hầm quá khứ…

Tình yêu này, trong sâu xa, bắt nguồn từ bà bác dâu.

Từ những nốt đậu mùa trên khuôn mặt trắng nhợt nhạt của bà bác dâu.  Khuôn mặt đầu tiên cúi nhìn tôi khi tôi vừa ngo ngoe ra đời từ bụng mẹ.

Người ta nói, ký ức về khuôn mặt đầu tiên người ta nhìn thấy khi chào đời sẽ nằm mãi trong trí nhớ và tiềm thức của người ta suốt một đời. Tôi tin vào điều đó.

Vì sau hết những ký ức ngồn  ngộn chất đầy trong bộ não tò mò phấn khích của tôi, thu nhận, lấp đầy, chảy mải miết rồi đào thải, để lại tiếp tục tiếp nhận những hình ảnh mới, ký ức mới. Thì phần nằm lại kiên nhẫn nhất và sâu nhất vẫn là khuôn mặt của bà bác dâu.

Ký ức đó pha trộn ký hiệu đầy cảm xúc của da ngón tay lần dò trên nốt đậu mùa lồi lõm, và mùi ngọn bấc đèn dầu cháy gần tàn hoi hoi, tiếng reo lửa lục bục, đêm mùa hè ẩm ướt sau sóng lưng:

– Những nốt sẹo này làm sao bà có?- tôi hỏi , rợn người vì sự thôi thúc của lòng gan dạ và trí tò mò.

–   Từ một năm đói, rất đói, cả làng đói, cả xã đói, không gì dày vò hủy hoại người ta bằng cái đói, cái đói làm người bò bằng đầu gối, vùng dậy trong đêm, đi như ma qua những cánh đồng chết vàng vì hoàng trùng, qua những ngõ xóm tối hoang và không bóng gia súc, vì tất cả đã bị đem ra làm thịt, kể cả lũ chuột.

–  Bà không chết đói à? – tôi rùng mình khi mồ hôi chạy dọc qua sóng lưng lạnh ngắt, là một đợt gió nửa nồm hè.

– Không, người ta chỉ có thể chết vì một thứ trong đời, người chết nhiều đến nỗi thần đói không màng giành giựt, ông ấy nhường bà vào tay thần đậu mùa, vậy mà bà sống đấy. Nhưng cả nhà bà đã chết hết, chết dấm dúi trong bụi, đống rơm, cây chuối, dưới ao, trên mặt nước, khi trên đường bò ra tìm côn trùng hay bất cứ thứ gì có thể bỏ vào mồm được. Bà sống được nhờ mẹ của bà, cụ chết đã ba ngày, chết đói, vàng mắt, hõm má, nhưng bầu sữa thì kỳ diệu, vẫn còn nóng cho bà lay lắt riết róng mãi cho đến lúc người ta kéo xác mẹ của bà hắt vào xe bò.  Nếu đôi mắt của bà không lóe lên trong đêm, người ta đã hắt bà xuống ao cùng cả nhà.

Từ trong góc tối ngọn đèn dầu không hắt tới, bà cô ruột của tôi chen vào , cười nhạt:

–  Bà không kể nốt chuyện làng ăn mày của bà à? Người ta cứu bà ấy cốt nuôi lớn để đi ăn mày và sai vặt. Làng ăn mày đông lắm , mà lại lười, chẳng ai muốn động tay động chân, chỉ có bà ấy là choắt người mà khỏe như hơn trâu vật. Cái số người đã lọt lưới tử thần một lần thì  sống dai lắm, dai hơn điả đã tróc lên bờ, dính phải vôi!

Tôi ngồi im trong sự lặng lẽ bất thường của bà bác dâu, bà cô ruột vẫn hơn hớn kể chuyện liến láu, từng từ lộn xộn như va chạm xô đẩy nhau tuôn ra:

– Bà cố mình lấy bà ấy về cho bác trưởng, bác ấy chẳng thiết vợ con, chỉ muốn người siêng làm về hầu hạ cả nhà. Ngày đón bà ấy về mới là kinh. Đám rước cũng đàng hoàng bằng đò, ba chiếc, người làng ăn mày bu theo ăn cỗ thừa đông cơ man là đông. Níu trĩu be xuồng không nhích được tấc nào. Thế là người đi rước dâu phải lấy mái chèo quất thật lực vào tay dân đi ăn chực, bao nhiêu là ngón tay rụng lã chã xuống nước. Có mấy lóng tay còn dính cả vào be xuồng cứ run giật như thằn lằn phải mất đuôi. Vậy mà cũng không cản được mấy. Dân ăn mày ấy, chúng nó dai lì như đỉa trâu thấy mùi máu càng say! Tôi kể thế có đúng hay không?

Bác dâu chỉ bấu tay vào cạnh bàn, những đốt tay trắng bệch phình ra to khác thường, chờn vờn trên tường.

Không ai dám nhắc lại chuyện về làng ăn mày với bà bác dâu, trừ bà cô ruột. Bố tôi nói, có những người vì được chăm nom, chiều chuộng quá kỹ lưỡng đến nỗi chỉ có thể già đi mà không biết lớn lên. Bà cô ruột của tôi là một. Bà là con gái một , dù nhà kiết vẫn ra dáng tiểu thư con nhà chức sắc, quanh năm ốm đau quặt quẹo. Lớn lên lấy chồng , đẻ con một tay bà bác dâu trông nom bế ẵm.

Mà hầu như con cháu trong nhà, chỉ một tay bà bác dâu chăm sóc, ai chửa đẻ cũng gọi bà bác dâu hầu hạ thuốc thang, quạt than, hơ lửa. Số bà là thế rồi, người ta lấy dâu trưởng về không để ngồi đầu mâm, mà để chui vào xó bếp, không phải để ăn miếng ngon, miếng nóng mà chỉ được phần hẩm, và thừa.

Ngay cả với chồng, đêm đầu tiên về động phòng, ông bác tôi chỉ đạp bà một phát lăn xuống giường, ông đã quen ngủ một mình, và bà lúc ấy vừa hôi, vừa gầy nhom, lại vừa rỗ chằng chịt. Mãi đến năm lên mười bảy, sau bốn năm thừa hưởng cơm thừa canh cặn nhà chồng, da thịt đỏ thắm lành lặn, bà mới được nằm cạnh bên chồng, mà chỉ thấy sấp lưng to tê đè nghiến, cảm giác tình yêu vừa thô vừa vụng về, mà lại nhớ hôi hổi hoài.

Ai dè cũng nhờ cái đạp xuống chân giường và cái lưng đè nghiến thô bè ấy, bà đã nhận ra xác của ông bác trai.

Ông thuộc diện lính kiểng, lính canh kho bạc mà chỉ một lần mang quân lương ra trận đã thành ngay tử sĩ , pháo giật đi nguyên đoàn phơi mình mấy ngày trên mặt ruộng.

Thời ấy chiến trận ác liệt, chẳng ai dám mang xác ông về, mà xác tanh bành té bẹ lẫn lộn, cũng không ai nhận ra ai nổi mà lọc ra đem về.

Bà bác dâu một mình trong chiều, kéo xe bò cọc cạch đi tìm xác chồng. Bà cố tôi khóc hời hời : vì con vợ mặt mỏng, lại bạc như vôi nên hại hết phúc nhà chồng.

Bà bác dâu lầm lũi kéo xe bò đi, cọc cạch , đường làng cọc cạch, năm ấy trăng quầng rất lớn , ráng chiều đỏ như máu loang, quạ đen bay đầy đồng, béo đến không cất cánh lên nổi.

Bà nhận ra xác chồng chỉ từ cái bàn chân dài khác thường, bàn chân một đêm đã đạp bà văng xuống đất , và cái lưng to bè, cái lưng đè sấp lên bà suốt những đêm yêu, cái lưng mà bà đã tưới biết bao nhiêu âu yếm nhớ thương mỗi đêm, bà hiếm khi thấy được mặt chồng sau những lần yêu vội vã.

Bà chỉ gào lên một tiếng nhỏ: Mình ơi ! rồi nín bặt, tiếng kêu duy nhất suốt mười năm làm vợ ấy không phải nghẹn vì đau đớn. Mà bà nghẹn tắt nửa chừng vì thấy lạ lùng. Cái dáng nằm của chồng bà ấy, sao mà co quắp, khốn khổ lạ lùng. Như đang ôm ấp, ủ ẩn cái gì đến quặn thắt bên trong. Bà lật xác bác trưởng lên, một bọc tiền lớn rơi ra, còn tươi màu máu và mùi máu.

Lúc này bà mới hộc lên nức nở: – Mình ơi!

Cả đời bà chưa rờ được vào đồng tiền, chồng bà chưa cho bà được một cái nhìn, một nụ cười âu yếm. Chỉ sau khi chết đi, ông mới vặn vẹo gìn giữ được cho bà một gia tài.

Cả một gia tài lớn so với thời ấy!

Bà đánh xe bò lầm lũi cả đêm đi về, bọc tiền vẫn úp dưới bụng chồng.

Sau đêm ấy bà trở nên người đàn bà hoàn toàn khác.

UYÊN LÊ

TRANG SỬ THEO THỰC ĐƠN KHMER ĐỎ VÀ MẠCH SỐNG TRUNG QUỐC
15 Tháng Bảy 20175
NGÔ THẾ VINH

Trích:

   Vào khoảng cuối thế kỷ 17, đời nhà Thanh do những biến động chính trị ở Hoa lục với phong trào Bài Mãn Phục Minh nên đã có đông đảo những cộng đồng người Hoa di cư xuống các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Cambodia, Lào, Thái. Họ có gốc gác từ các tỉnh duyên hải phía đông nam Trung Quốc như Hải Nam, Quảng Đông, Phúc Kiến, mà người Khmer gọi một tên chung là Cambodia’s Hua Chiao hay người Hoa hải ngoại / Overseas Chinese. Đặc điểm của đám di dân này đa số là đàn ông, và qua những cuộc hôn nhân hợp chủng, họ mau chóng hội nhập vào các cộng đồng cư dân bản địa.

       Không ít các cấp lãnh đạo xứ Chùa Tháp đều ít nhiều có mang huyết thống Hán tộc bước sang thế hệ thứ hai thứ ba như Lol Nol [ông ngoại là người Hoa gốc Phúc Kiến/ Fujian], Ieng Sary [sinh đẻ ở Trà Vinh, nam Việt Nam, mẹ gốc Hoa], Khieu Samphan [cũng có gốc Hoa từ bà ngoại], Nuon Chea [có cha người Hoa và mẹ người Khmer lai Hoa], Pol Pot [có cha là người Khmer gốc Hoa và Saloth Sar là một tên khác của Pol Pot, Sar có nghĩa là trắng trong ngôn ngữ Khmer, để phân biệt với nước da rất sậm của người Khmer thuần chủng]…

      Sau thời kỳ Khmer Đỏ, trong những năm gần đây, đã lại có thêm những đợt người Tàu từ Hoa Lục, Đài Loan, Mã Lai di cư vào Cambodia tìm cơ hội làm ăn lập nghiệp.  

      Người Tàu có khả năng thích nghi cao, họ tới các thành phố nhưng cũng có mặt cả những vùng thôn quê hẻo lánh. Và điều ai cũng nhận thấy là các cộng đồng người Hoa dễ dàng được đón nhận và họ không có khó khăn để hoà nhập vào xã hội người Miên. Do có tài buôn bán và cần cù chịu khó lại đoàn kết nên họ nhanh chóng trở thành những doanh nhân thế lực khống chế nền thương mại kinh tế và cả có nhiều ảnh hưởng chính trị trên quốc gia này.

Rất khác với người Việt cho dù đã trải qua nhiều thế hệ, sinh đẻ trên đất Miên nhưng họ vẫn luôn luôn bị kỳ thị do mối thù hận lịch sử và bị người Khmer gọi một cách bỉ thử là bọn “Yuon / bọn bắc”, và cả với cộng đồng người Chăm theo đạo Islam cũng bị người Khmer nghi kỵ vì bị coi như hợp tác với người Việt trong quá khứ như một lực lượng kìm kẹp. Người Việt và người Chăm sống trên đất Miên là hai cộng đồng thiểu số bị sát hại nhiều nhất qua chính sách tẩy sạch chủng tộc / ethnic cleansing trong thời kỳ Khmer Đỏ.

 Quý bạn nhấn vào hàng tiêu đề để đọc toàn văn bài nghiên cứu của tác giả Ngô Thế Vinh trên Hơp Lưu

Đôi giòng:
Đám cưới đầu xuân tại làng Việt Nam trong Hội Chợ Sinh Viên 2018 ( Nam Cali.) vui quá.  Chúc cô dâu-chú rể  một đời hạnh phúc ( Hạnh phúc Lứa đôi Bền vững) – SĐ-NTC

Đám cưới đầu Xuân tại Làng Việt Nam trong Hội Chợ Sinh Viên 2018


____________________________________________________________________________________________Nguồn: Người Việt (Hoa Kỳ)

Đôi giòng:
Mật độ của những vụ ăn cắp, cướp giật, trộm chó, đòi nợ thuê, hành hung, giết người, băng đảng thanh toán nhau,…dày đặc trên các báo hàng ngày tại Việt Nam trong nhiều chục năm trở lại đây phản ánh tình trạng một xã hội đã ruỗng nát về nhiều mặt!!!

Tin trên Người Việt (Hoa Kỳ) – Feb 24  2018
Về quê ăn Tết, Việt kiều Canada bị côn đồ đâm chết

February 23 2018

Một nhóm côn đồ đã chặn nhầm nhóm gia đình một Việt kiều về Việt Nam ăn Tết. Sau một cuộc cãi vã, nhóm côn đồ rút dao đâm 4 người, trong đó ông Việt kiều bị đâm chết.
_______________________________________________________________
Bạn đọc nhấn vào hàng tiêu đề để đọc tin trên Người Việt

Làn sóng cán bộ khao khát tâm linh

 Vũ Thạch 

Năm nào cũng vậy, giữa dòng người lũ lượt chuẩn bị Tết và giữa biển người kiếm lộc đầu năm, có vô số vợ con cán bộ tất bật đến các nơi “linh thiêng”, tôn giáo nào cũng được, dâng cúng rất rộng tay. Và giữa tiếng lâm râm khấn vái đó người ta nghe được cả những câu khuyến mãi: “Nếu Ngài cho chồng con năm mới may mắn, thu nhập khá thì cuối năm con sẽ cúng lớn hơn nữa”.


Nhưng không chỉ trông cậy vào vợ con và cũng không chờ đến cuối năm, nhiều cán bộ cho âm thầm tổ chức cúng “giải hạn” ngay tại cơ quan. Đặc biệt một số đơn vị công an len lén mời thầy cúng đến “hòa giải” với các oan hồn đã chết tại đồn.

Rồi không chỉ cán bộ cấp thấp, đến cả Trung tướng Công an Hữu Ước cũng khoe trên khắp báo đài vừa bỏ tiền túi xây xong một khu văn hóa tâm linh, có tên Tâm Linh Ước, bao gồm đình, chùa, nơi thờ tự, suối giải oan, và tháp giải oan. Và cao nhất mà quần chúng biết được cho đến nay là Đại tướng Công an kiêm Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Trong thời gian trị bệnh hiểm nghèo năm ngoái, ông cúng chùa Vĩnh Nghiêm một cặp đèn và lư hương trị giá 19 tỷ đồng. Chân đèn còn khắc dòng chữ: Gia đình Đại tướng Trần Đại Quang tiến cúng.

Hiện tượng này đáng kinh ngạc và khó hiểu vì đây là những cán bộ luôn khẳng định mình là Người Cộng Sản. Ai cũng biết nhân sinh quan, vũ trụ quan của Chủ nghĩa CS không có chỗ cho các giá trị hay chủ thể tâm linh. Mọi sự hiện hữu nếu có phải được chứng minh qua duy vật biện chứng. Trên căn bản đó, con người khi chết là hết. Không hề có cái gọi là linh hồn, cõi sau, thiên đàng, hay địa ngục. Mọi niềm tin khác với những khẳng định đó đều bị xem là lạc hậu, là thuốc phiện hay công cụ cai trị của chế độ phong kiến.

Vậy giải thích thế nào về hàng ngũ cán bộ đang ùn ùn đi kiếm thần thánh, tâm linh?

Hiển nhiên tại Việt Nam chẳng có thống kê tâm lý nào cho hiện tượng này. Tuy nhiên, nếu lắng nghe đủ các phát biểu, cả công khai lẫn riêng tư trong vòng bạn bè, cả lời nói lẫn bài viết và hành động, người ta có thể liệt kê ít là 4 loại lý giải sau đây:

1. Khô cằn tình người.

Phải thừa nhận, dưới mọi chế độ CS, tình người đều khô cằn so với thế giới còn lại. Nhưng trong lòng những con người CS thuần thành thì tình người lại càng là những sa mạc.

– Sau 7 thập niên thay thế nhiều loại tình nghĩa con người bằng “tình yêu giai cấp”, người CSVN nay đối diện một thứ tình ảo tưởng, hoàn toàn không có đối tượng. Họ nhận ra các ông tổ cộng sản chẳng có ông nào chịu làm công nông cả mà chỉ mượn danh nghĩa và bắp thịt giai cấp công nông để lên nắm quyền. Sau đó, con cháu họ cũng chẳng dại gì mà làm nông dân hay công nhân. Và đến nay, giới tư bản đỏ chỉ còn xem công nông như những nguồn rắc rối, những thùng thuốc pháo chực nổ, những kẻ phản động dự khuyết. Tóm lại, các quan hệ tình nghĩa con người bị thay thế bằng con số không của tình giai cấp.

– Tình cảm gia đình của những người CS cũng khô xác xơ từ lâu. Đa số giới cán bộ trung và cao cấp hiện này đều trải qua cái thời mà chuyện vợ chồng là do “tập thể xây dựng cho”. Nghĩa là tập thể đã sắp xếp để không nhập nhằng giữa máu cách mạng với các loại máu địa chủ, tư bản, hay ngay cả tiểu tư sản. Trên căn bản đó, khó mà có chuyện yêu thương giữa vợ chồng. Sau đó là những năm tháng cha mẹ cũng không dám thố lộ suy nghĩ với đám con “cháu ngoan bác Hồ” của mình vì sợ lọt đến tai đoàn, đảng, và cơ quan. Ngay cả vợ chồng cũng không dám nói hết với nhau vì sợ lộ ra “suy thoái quan điểm lập trường”. Tình gia đình chỉ là khế ước sống chung hộ.

Chính sự cô đơn và khao khát tình thân, đặc biệt lúc càng gần cuối đời, đang thúc đẩy nhiều cán bộ tìm đến những đấng yêu thương vô điều kiện trong các tôn giáo.

2. Nếm mùi bất lực trước bấp bênh cuộc đời.

Hệ thống tranh giành quyền lực liên tục và ngày càng kịch liệt giữa các phe phái trong đảng luôn sản sinh thêm “phe thua”. Trong những năm gần đây, khó còn có thể cậy dựa vào ô dù nào tuyệt đối. Mưa bão trước sau gì cũng đến. Cảnh lên voi xuống chó như Trịnh Xuân Thanh, Đinh La Thăng, Vũ nhôm, … cứ nhân rộng dần. Tình trạng bấp bênh đó khiến nhiều cán bộ hối hả đi mua “bảo hiểm”, mua “sự phù hộ” của thần thánh.

Bên cạnh đó là loại bấp bênh khác của giới cán bộ lớn tuổi. Sau bao nhiêu năm tin tưởng sức mạnh con người là vô địch, không có thần thánh nào sánh nổi, thì nay trước bóng dáng sự chết đang tới dần, họ mới thấy mình quá bé nhỏ, bất lực, chới với. Những thứ họ dùng làm chỗ dựa vững chắc xưa nay, như số đàn anh phía trên và dàn đàn em phía dưới, khối quyền lực trong tay, khối gia tài đã cất giấu kỹ lưỡng đều vô ích trước thần chết. Sự bất lực bỗng trở thành nỗi run sợ. Sợ đến cốt lõi. Sợ đến độ quên luôn những điều họ đã khẳng định cả đời, như bác Hồ bỗng nhiên bật ra câu “sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin”. Nhưng khác với thời bác Hồ, thời nay đảng đã làm ngơ cho cán bộ đi kiếm thần thánh, kiếm tâm linh chuẩn bị cho “đời sau” sớm hơn nhiều.

3. Quá sợ các món nợ phải trả nơi cõi âm:

Trong hệ thống cai trị của các đảng CS, có thể nói cán bộ nào leo được lên càng cao thì số nạn nhân bên dưới họ chất đống càng nhiều, không chỉ dân chúng mà còn cả các đồng chí của họ nữa. Thí dụ điển hình như những hung thần Đỗ Mười trong thời kỳ “cải tạo” miền Nam, Lê Đức Anh và Lê Khả Phiêu trên đất Campuchia thời kỳ 10 năm chiếm đóng, …

Nay đến gần cửa chết, họ đều sợ những oan hồn đang chờ họ ở thế giới bên kia, nơi mà mọi của cải, quyền lực đều phải bỏ lại, ngoại trừ cái hồ sơ cá nhân phải đem theo.

Đó là động cơ khiến nhiều cán bộ hối hả cúng chùa, xây khu tâm linh, … như một kiểu xí xóa nợ, nộp dương đức để trừ âm nghiệp.

4. Quá ân hận về quá khứ của mình.

Phải thừa nhận có nhiều cán bộ như ông Nguyễn Hộ, Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, Tướng Trần Độ, … đến cuối đời đã thực sự hối hận. Họ nhìn lại đời mình, đời con cháu mình, kể cả nhìn lại con cháu của các nạn nhân của mình mà đau lòng. Và càng đau lòng hơn khi không còn có thể làm gì để sửa lại các hậu quả do chính mình góp phần tạo ra.

Chính sự đau lòng đó đã khiến loại cán bộ này tìm đến Trời Phật để sám hối, để cầu nguyện cho các nạn nhân của họ.

* * *

Không chỉ 4 loại cá nhân cán bộ hướng đến tâm linh nêu trên đang gia tăng, mà ngay cả tập thể lãnh đạo đảng cũng đang cố tình làm ngơ cho các nhóm “Đạo bác Hồ”, cho đưa tượng “bồ tát HCM” vào các chùa do Nhà nước trụ trì, và ngay cả đưa đội U23 đến “báo công” cho bác Hồ nghe.

Nhìn tổng thể, chưa bao giờ Chủ nghĩa CS tại Việt Nam lại rỗng ruột như hiện nay. Các loại lợi ích đặc thù của chế độ CS như giáo dục miễn phí, y tế miễn phí đều đã biến mất. Loại quan hệ sản xuất đặc thù của chế độ đã được thay bằng loại kinh tế tư bản mà CNCS thề sẽ tiêu diệt. Giai cấp công nông, nền tảng của CNCS, đã bị bán đứt cho giai cấp tư bản chủ hãng cả trong và ngoài nước từ lâu. Và nay cả quan điểm vô thần, duy vật cũng đang bị từ cá nhân cán bộ đến tập thể lãnh đạo vất bỏ.

Chỉ còn một sợi xích cuối cùng nếu cắt bỏ được thì cả dân tộc sẽ chính thức trả cái cùm CNCS về với lịch sử để nhập vào thế giới văn minh. Đó là hệ thống công an.

Trong những ngày linh thiêng đầu năm Mậu Tuất, có lẽ đây là điều cả dân tộc chúng ta, kể cả các cán bộ công an mọi cấp, nên thành khẩn cầu xin.

(Nguồn: Dân Luận via TTR) https://www.danluan.org/tin-tuc/20180214/lan-song-can-bo-khao-khat-tam-linh

Why Science Does Not Disprove God – 3
Tác giả: Amir D. Aczel

Xã hội nào cũng đều có người tin và kẻ không tin (tin hay không tin có Thượng Đế/Thiên Chúa)*. Những nhà tư tưởng lớn như Descartes đã bị kẻ thù buộc tội là những kẻ vô thần, ngay cả khi họ không phải là vậy. Và vì xã hội thường bị/được các vua chúa cai trị kết hợp và chịu ảnh hưởng của một giáo hội, những người vô thần thường bị hành hình, và dị giáo là một tội có thể bị tử hình. Bị tội hoả thiêu ở Tây Ban Nha, những người Do thái đã bị hoả thiêu trên dàn giáo như những kẻ dị giáo. Triết gia, toán học gia người Ý Giordano Bruno,cũng là giáo sĩ dòng Dominican, đã bị thiêu chết ở La Mã vào năm 1600 sau khi Toà án Dị giáo (Inquisition) kết tội ông là kẻ dị giáo vì tin rằng mặt trời là một vì sao và rằng vũ trụ còn có những nền văn minh khác. Nhưng những cuộc hành hình những người vô thần này, hoặc những người bị xem là vô thần khi họ không phải là vô thần, đã xảy ra từ nhiều thế kỷ trước.
Chủ nghiã vô thần vừa chiến đấu, hiếu chiến, và kình nghịch chống lại những kẻ hữu thần. Những người thuộc phái này (tin) chắc rằng tôn giáo là độc ác, và họ bày tỏ niềm tin của họ lớn lối và rõ ràng. Là nhà khoa học hay không, những người Vô thần Mới thường hay dùng khoa học như công cụ của họ.
Và những kẻ này – Dawkins, Krauss, kẻ đã quá vãng Hitchens, Harris, và Dennett – đã kết với nhau dưới một mục tiêu bạo liệt chung, và họ tiếp tục giúp sức cho nhau. Vấn đề về khoa học trong những sách và bài giảng của những kẻ Vô thần Mới là chúng không thuần túy khoa học – mục tiêu theo đuổi kiến thức về vũ trụ. Hơn thế, nó là “khoa học có chủ đích”: Chủ đích bác bỏ sự hiện hữu của Thượng Đế (Chúa). Những lập luận của những cây viết này, do vậy, thường có chủ ý. Họ bẻ cong và vặn vẹo khoa học để đẩy mạnh chương trình nghị sự của họ theo cách thức không khác nhiều với cách thức của một nhà khoa học nằm trong danh sách lãnh lương của một công ty dược phẩm viết tường trình có lợi về một loại thuốc có nghi vấn mà công ty làm ra.
Những nhà khoa học hàng đầu, đặc biệt trong những lãnh vực phải tính toán nhiều hơn như vật lý, có khuynh hướng không can dự sâu vào những tranh biện vô thần. Họ nói chung ưa theo đuổi khoa học chỉ với mục đích học biết về vũ trụ, để những tranh biện triết học về Thượng Đế (Chúa) cho người khác (dẫu là nhiều người trong số họ thật sự là những người không tin vào tôn giáo). Như ta có thể thấy những cuốn sách do những nhà khoa học chuyên ngành có thiện cảm với chủ nghiã vô thần nhưng không là thành phần của nhóm vô thần nhiệt thành.
Trong số những cây viết này là Stephen Hawking, viết chung với Leonard Mlodinow, cuốn The Grand Design (2010)- Cuộc Thiết Kế Vĩ Đại, là cuộc hành trình khoa học tới những biên cương của kiến thức trong vật lý và vũ trụ học, ủng hộ về luận đề là God ( Thượng Đế/Thiên Chúa/Chúa) không cần thiết nhưng ngưng ngang đối với những lời mời gọi đến với chủ nghiã vô thần của Dawkins, Krauss, Dennett, và Harris. Tôi sẽ đề cập tới những luận cứ trong sách của Hawking và Mlodinow. Trên thực tế,  khoa học vật lý không phản bác sự hiện hữu của Chúa.
Hawking tự thân, ta có thể thêm vào, đã dùng từ “God” ( Thiên Chúa/Thượng Đế), ít nhất là với ý nghiã của người làm những luật vật lý, suốt nghề nghiệp dài của ông, với những tuyên bố như “ Chúng ta rất gần với Thượng Đế “ – (“We are nearing God!”) – ( khi ông nói về khám phá lý thuyết trong vật lý một vài năm trước) và trong tựa đề của một trong những cuốn sách ông đã cho xuất bản, Chúa đã Sáng Tạo những Số Nguyên Tố – (God Created the Integers) (2007). Trong khi chắc chắn là không hàm ý niềm tin tôn giáo, Hawkins sử dụng từ “God” không phải là điều gì Dawkins, Harris, Dennett, hay Krauss từng làm.
Trong một buổi giảng bài ở Oxford University được tờ báo Anh The Guardian in lại, James Wood cho thấy một vài khiếm khuyết chính của “chủ nghiã vô thần tác chiến” mới, chẳng hạn như những cuộc tấn công không ngừng đối với bất cứ loại niềm tin nào, từ chối bất kỳ giá trị nào trong việc cá nhân thực hành tôn giáo, và việc nó coi mọi tôn giáo ở phương Tây đều đáng ghê tởm. Trẻ con, như Wood ghi nhận đôi khi bị “gắn chặt” vào chữ nghiã đơn thuần (strict literalism), chúng từ đó mà lớn lên. Tuy vậy, ông ghi nhận:

Chủ Nghiã Vô Thần Mới bị kềm chặt trong một loại ‘duy từ chủ nghiã’ (literalism) tương tự. Nó sống ký sinh vào kẻ thù của nó.  Hệt như Thiên Chúa Giáo thuộc phái phúc âm (evangelical Christianity) nệ vào câu chữ trong kinh thánh (scriptural literalism)  và một niềm tin đơn sơ vào một “Thượng Đế mang tính người” , vì vậy Chủ nghiã Vô thần Mới hình như thường gây chiến với chủ nghiã nệ vào câu chữ trong kinh thánh.  Thiên Chúa của Chủ nghiã Vô thần Mới và Thiên Chúa của phong trào chính thống tuyệt đối tin vào kinh thánh (religious fundamentalism) xem ra là những thực thể rất giống nhau.

Đọc kinh thánh không phải là đọc bản văn trơ lì. Bản gốc tiếng Do thái của Cựu Ước và tiếng Hy lạp của Tân Ước đầy chất thơ tao nhã. Nhưng những nhà Vô thần Mới hiếu chiến có khuynh hướng nệ từng câu chữ theo những cách thức mà không người đọc thuận lý nào từng đọc.
(còn tiếp)
_____________________________________
*Trang chủ ghi thêm cho rõ nghiã