Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Lời cám ơn

Hân hạnh chào đón bạn đọc,

Chân thành cám ơn các tác giả đã cho phép chúng tôi sử dụng bài viết, thơ, truyện, nhạc, tranh vẽ, ảnh chụp,…trên Blog này;

Chân thành cám ơn trước những tác giả mà chúng tôi chưa liên lạc, nhưng đã mạn phép* quý vị đưa bài, hình ảnh, tranh vẽ, ảnh chụp,…giới thiệu đến bạn đọc;

Mến chúc quý vị và quý bạn sức khoẻ, bình an,

Trân trọng,

Riverwood Arts Center 03a (Small)

Sầu Đông  Nguyễn Thọ Chấn

* Trong trường hợp quý vị có những điều cần lưu ý, xin vui lòng cho biết qua điện thư. Chân thành cảm ơn quý vị.

Phỏng vấn rất nên tham khảo của BBC với cựu luật sư Lê Công Định

Người dân phải ‘bước qua tâm lý sợ hãi’

Khi tôi ra khỏi tù, tôi thấy một lực lượng luật sư, không chỉ những luật sư lớn tuổi mà kể cả các luật sư trẻ, thậm chí mới vào nghề, họ cũng rất sẵn sàng dấn thân. Tôi rất kỳ vọng vào lực lượng luật sư này.

Nhà cầm quyền cũng ngại họ bởi đây là một giới có sự hiểu biết pháp luật nhất định. Bởi vì rất nhiều nơi ở Việt Nam, các quan chức nhiều khi làm việc không để ý đến vấn đề tuân thủ luật pháp, đưa đến vấn đề cửa quyền, quan liêu. Người dân thường rất khổ vì đối mặt với các thủ tục pháp lý đôi khi không được tuân thủ đàng hoàng.

Tiếng nói và sự dấn thân của giới luật sư sẽ giúp cho người dân hiểu rõ hơn quyền lợi của mình. Nhà cầm quyền cũng ngại.

Đứng từ góc độ phát triển quốc gia thì tôi thấy sự dấn thân và lên tiếng của các luật sư là tốt cho sự phát triển đất nước. Còn nếu nhà cầm quyền ngại thì họ nên cần thay đổi suy nghĩ của mình để chấp nhận vai trò của giới luật sư ngày càng tăng trong xã hội.

Đón Giao Thừa Trên Phi Đạo

Tác Giả: Nguyễn Bích Thủy

 

Hôm nay, Mùng Một Tết Bính Thân 2016, Việt Báo Viết Về Nước Mỹ trân trọng chúc mừng quí vị tác giả và độc giả Một Năm Mới Tốt Đẹp. Bài viết đầu năm là một tự truyện của Nguyễn Bích Thủy, kể việc bay về thăm Mẹ. Tác giả đã nhận giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2014. Cô sinh năm 1962, tốt nghiệp Đại Học Mỹ Thuật năm 1988 khoa Đồ Họa tại Việt Nam, từng làm công việc thiết kế sáng tạo trong ngành quảng cáo. Cô đến Mỹ tháng 4 năm 2000, hiện là cư dân Waxahachie, Texas.

* * *

Đối với người Việt ngày Tết là ngày của đoàn tụ và sum họp. Nên dù có “đi Đông đi Tây” thì chiều ba mươi Tết mọi người trong gia đình cũng thường tề tựu đông đủ để rước ông bà về ăn Tết với con cháu. Còn như “vạn bất đắc dĩ” có bận cách mấy thì cũng phải cố gắng về trước lúc giao thừa để kịp thắp nén nhang tạ ơn đất trời và cầu cho vạn sự kiết tường trong suốt 365 ngày sắp đến. Nhưng trên thực tế nhiều chiến sĩ phải đón giao thừa nơi tiền đồn heo hút, nhiều thương nhân bận đi làm ăn xa về không kịp nên đành phải đón giao thừa trên xe đò, ở sân bay, tại nhà ga, trong xe lửa … là chuyện cũng khá thường xảy ra! Ngày nay người Việt Nam đã có mặt khắp các châu lục nên việc họ phải đón giao thừa trên không phận trong các chuyến bay về ăn Tết cuối năm là điều đôi khi cũng không thể tránh khỏi. Duy chỉ có việc phải đón giao thừa trên phi đạo kể ra cũng khá hy hữu!

*

Trước Tết Ất Mùi độ một tháng em gái tôi từ Đức cho hay nó đã mua vé máy bay về Việt Nam ăn-Tết-với-mẹ và rủ tôi cùng về cho vui. Nó là đứa có hiếu nhất nhà và cũng thường hay thu xếp “chuyện chồng con” để về thăm mẹ vào mỗi dịp Tết. Vì tôi đã có ý định mùa hè 2015 sẽ dẫn con trai về thăm bà Ngoại nên không thể đi cùng. Thế là em gái tôi đành phải về Việt Nam một mình! Bên này mọi người cũng yên tâm vì ngày Tết mẹ tôi sẽ đỡ hiu quạnh hơn khi có con gái về thăm. Dù chỉ có một đứa thôi nhưng chắc mẹ vẫn thấy vui trong lòng!

Đùng một cái trước ngày đưa Ông Táo về chầu trời mẹ tôi phải vô bệnh viện cấp cứu hai lần chỉ trong vòng một tuần lễ. Có lẻ trước Tết năm rồi Sàigòn đột nhiên trở lạnh dữ dội khiến mẹ tôi vừa bị suyễn, vừa bị cao huyết áp dồn dập. Thêm vào đó chứng bịnh tim cũng thường xuyên đe dọa khiến cho chị em tôi bên này đứng ngồi không yên. Em trai tôi nhắn tin sang cho biết thấy mẹ yếu quá, nó rất lo. Mẩu tin ngắn gọn vỏn vẹn chưa đến hai dòng nhưng tôi thật sốt ruột. Cuối cùng tôi đã quyết định lên mạng rà soát hết các chuyến bay về Việt Nam trong những ngày cận Tết để tìm một vé về với mẹ!

Vì không còn nhiều ngày phép nên tôi đành phải lấy Personal Leaving và nghỉ không được hãng trả lương. Nhưng không hề gì, mẹ bệnh có phần nguy kịch tôi nghĩ mình nên về thôi! Biết đâu sự có mặt của hai chị em tôi khiến mẹ sẽ khỏe hơn!?

Nhưng. Bỗng dưng trước ngày tôi lên đường thì mẹ đỡ hẳn, có lẻ do thời tiết bên Việt Nam đã ấm dần lên. Vé đã mua, phép đã duyệt, tôi phải “bay” thôi! Không còn cách nào khác. Dẫu sao tôi cũng về với tâm thế nhẹ nhõm hơn đôi chút vì biết bệnh tình của mẹ đã khỏe nhiều, chỉ tội nghiệp cho mấy-cha-con sẽ ăn Tết buồn hiu trong suốt gần ba tuần lễ tôi vắng mặt!

Ra phi trường Dallas Forth Worth vào sáng 17 tháng 2 năm 2015, theo như lịch bay tôi sẽ về đến Tân Sơn Nhất lúc 11:30 pm ngày 18 tháng 2 nhằm sát giờ giao thừa bên Việt Nam. Tôi nghĩ phen này chắc mình sẽ có dịp về xông đất nhà mẹ sau mười lăm năm ăn Tết ở xứ người. Chắc cũng thú vị lắm. Buổi sáng hôm đó ông xã và con trai đưa tôi ra sân bay sớm hơn thường lệ vì họ phải về cho kịp giờ học của thằng nhỏ. Con tôi buồn hiu vì biết hè nó sẽ không được về thăm nhà, tôi đành an ủi nó rằng Ngoại bị bệnh mẹ phải về gấp, lần tới hai mẹ con mình cùng về nó mới chịu nguôi ngoai. Đây cũng là lần đầu tiên tôi về thăm gia đình mà không có con cái theo cùng!

Về Việt Nam ăn Tết mùa này ngoại trừ những người độc thân, những cặp đã nghỉ hưu thì thường là những ông bố hay bà mẹ về mình-ên vì cần phải có ít nhất một người ở lại Mỹ để trông chừng lũ trẻ. Sân bay vắng đám con nít nói cười tíu tít, chạy giỡn lăng xăng nên cũng yên lắng đôi chút. Sau khi check – in tôi kiếm một chỗ ngồi gần ổ cắm điện định online để “đốt” thời gian thì từ lối đi giữa hành lang một người phụ nữ trạc cỡ trên 65 tiến đến gần tôi, rụt rè hỏi:

– …. Việt Nam phải không?

Bà hỏi trổng không nhưng kèm theo là một nụ cười thật hiền lành. Mặt tôi không giống Việt Nam thì giống ai bây giờ!?? Tôi thấy vui vui vì được gặp đồng hương và vì sự chất phác của người đối diện nên liền trả lời:

– Dạ phải. Cô có cần giúp gì không ạ!

Không đợi tôi mời, bà ngồi xuống ngay cạnh tôi và giọng trở nên vui vẻ hẳn:

– Hôm nay thằng con chở ra đây hơi sớm vì nó phải về đi làm; tôi đi loanh quanh đây nảy giờ để tìm người Việt Nam nói chuyện cho vui, thời may gặp được cô…

Thoạt nhìn bà ngay từ lúc đầu tôi đã sinh nghi trong lòng, đến khi nghe giọng nói của bà tôi mới biết đích xác người phụ nữ này là “Con cháu Bác Hồ” không sai tẹo nào! Cũng vì tính tò mò nên tôi liền lân la hỏi chuyện:

– Cô về một mình không sợ sao?

Bà cười để lộ cả hàm răng hô:

– Chả sợ! Lạc thế nào được mà lạc. Này nhé! Tôi sang Mỹ đã mười năm về Việt Nam cả thảy năm lần rồi đấy. Đáng nhẻ ra sang năm tôi mới về cơ nhưng vì u tôi đang bệnh nặng lắm, tôi phải năn nỉ con dâu kiếm người trông hộ thằng cháu Nội để tôi về thăm bà. Kẻo không kịp cô ơi!

Rồi bà thấp giọng, buồn buồn:

– Gớm mình lo cho bọn chúng sang đây tất-tần-tật vậy mà giờ đây muốn về Việt Nam thăm mẹ phải năn nỉ chúng, thế có khổ không chứ!?

Tôi hỏi liền:

– Quê cô ở đâu?

– Tôi ở Hải Dương. Chắc cô là người Sàigòn.

Tôi gật đầu định hỏi bà sang Mỹ theo “diện” nào thì bà đã kể khá chi biết:

– Thế này nhé! Tôi ở tận ngoài Bắc, nhà tôi buôn bán ngay mặt phố nên cũng có tí tiền. Trước khi ông nhà tôi mất có trăn trối lại bằng mọi cách phải lo cho đám con sang Mỹ để bọn chúng biết thế nào là thế giới văn minh, tự do. Đấy là ước mơ cả đời của ông nhà tôi cô ạ!

Ngừng giây lát cho sự xúc động lắng xuống bà kể tiếp:

– Đầu tiên tôi cho hai thằng lớn qua đây du học. Sang ít lâu chúng kết hôn rồi ở lại định cư và bảo lãnh tôi. Còn thằng Út mình nhờ người về cưới rồi trả tiền thì nó mới được đi sớm hơn. Nói nào ngay tiền lo cho thằng Út nhà tôi là của hai anh nó hùn lại trả. Mà cơ khổ nó còn vợ và hai đứa con bỏ lại bên Việt Nam nữa đấy. Thôi cứ chờ chừng nào nó vô quốc tịch thì về Việt Nam bảo lãnh vợ con sang cũng chẳng muộn. Người nào đi trước được thì cứ đi. Qua càng sớm càng tốt!

Thấy bà thật lòng tôi liền tò mò hỏi:

– Thế hai người con của cô sang đây học về ngành gì?

Bà bật cười to:

– Học gì mà nổi cô ơi. Chúng sang đây chỉ đi học cho có lệ, chủ yếu là đi làm nail. Lấy vợ xong là chúng ra mở ngay tiệm nail. Bây giờ hai anh em mỗi đứa một tiệm, chúng sống thoải mái lắm! Chỉ có thằng Út là chịu học, cũng sắp ra trường rồi!

Tôi nói ngay chẳng chút đắn đo:

– Cô giỏi thật! Một mình mà lo cho cả gia đình “đoàn tụ” tại Mỹ.

Bà thành thật trả lời:

– Cũng nhờ tôi buôn bán nên quen biết nhiều. Ngoài ấy mọi việc đều có đường dây cả cô ạ. Muốn đi Mỹ, đi Châu Âu hay bất kỳ quốc gia nào đều lo được tất. Nếu mình biết chỗ để chi từ A đến Z thì mọi thứ xong ngay.

Tôi thấy gương mặt của bà thật rạng rỡ, thật mãn nguyện. Bà cứ líu lo hồn nhiên hỏi tôi có khi nào ra Bắc chơi chưa. Quê tôi nổi tiếng với bánh đậu xanh Hải Dương, xuất khẩu đi khắp thế giới đấy nhé! Tôi nói với bà tôi đã đến quê bà rồi. Bà cười thật tươi bảo u tôi mà thấy tôi về chắc thế nào cũng khỏe ngay cô ạ. Tội nghiệp bà chỉ có mình tôi là gái, ở với con dâu sao bằng con gái phải không cô. Nhưng khổ thân tôi có đến ba thằng con trai lận. Sau này tôi chả biết ở với đứa nào. Rõ khổ! Bà than khổ nhưng cứ nói cười luôn miệng. Tôi đọc được sự mãn nguyện từ trong ánh mắt của người phụ nữ đầy bản lĩnh này. Bà đã thực hiện được di nguyện của chồng và đã đổi-quốc-tịch cho ba người con của mình. Tôi thật sự cảm phục bà!

Hình như bà ít có dịp tiếp xúc với người ngoài nên khi gặp tôi bà như muốn được trút hết tâm sự mặc dù bà không hề biết tôi tên gì, ở đâu giữa cái sân bay quốc tế rộng lớn này ngoài một việc duy nhất: tôi là người Việt Nam! Một sợi dây vô hình nhưng sao thật gần gủi! Lát sau bà nhìn đồng hồ rồi vội vàng bảo:

– Chắc tôi phải đi kiếm “cái cổng” của mình cô ạ. Mãi lo nói chuyện với cô tôi quên khuấy đi mất sắp đến giờ lên tàu rồi.

Trước khi chia tay tôi cầu chúc cho mẹ bà mau chóng hết bệnh và bà cũng chúc tôi về ăn Tết với gia đình vui vẻ. Tôi đã không có cơ hội cho bà biết rằng tôi cũng về Việt Nam thăm mẹ bệnh, nhưng bà nào đã có thời gian để nghe tôi nói!? Trước lúc quay đi bà vẫn còn ngoái lại cười cười, vẫy vẫy theo tôi cho đến khi lẫn vào dòng người trong sân bay. Tôi nhìn theo bà mà thấy thương thương trong lòng. Bà đã thực hiện xong lời trăn trối của chồng, đã chu toàn nhiệm vụ với con cháu nhưng vẫn không quên bổn phận của mình đối với người mẹ già bên Việt Nam! Thật quý biết bao.

*

Trên chuyến bay từ phi trường Narita của Nhật về Việt Nam ngoài những thương gia ngoại quốc, những người đi công tác xa thì hầu hết toàn là những “Việt kiều” về quê ăn Tết.

Sau một chuyến bay dài suốt gần 14 giờ giờ đồng hồ vượt Thái Bình Dương có lẽ ai cũng thấm mệt nhưng chỉ còn hơn sáu tiếng nữa thôi là họ sẽ gặp lại những người thân yêu của mình nên trông mọi người có vẻ phấn chấn hẳn lên. Vài phái đẹp còn vào “thay đổi xiêm y”, đánh thêm tí phấn, thoa thêm ít son cho hồng má, thắm môi. Nhất là đối với những người mới về thăm nhà lần đầu tiên thì trông có vẻ chăm chút hơn.

Nhìn dòng người xếp hàng lần lượt lên máy bay tôi đặc biệt chú ý đến một người phụ nữ cỡ ngoài 70, bà ngồi trên xe đẩy và có một cô gái theo cùng. Ở họ toát lên nét chân chất rất Nam bộ. Thật tình cờ số ghế của tôi lại cùng chỗ với họ. Tôi ngồi trong cùng sát cửa sổ, người phụ nữ ngồi giữa và cô gái ngồi gần lối đi. Do vậy tôi và bà có dịp chuyện trò gần như suốt chặng bay về tới Tân Sơn Nhất.

Bà quê ở Rạch Giá, mười hai năm trước bà được con trai bảo lãnh sang Mỹ và hiện nay đang sống ở Minnesota. Cô cháu gái gọi bà bằng cô đang thất nghiệp nên sẵn lòng “hộ tống” bà về Việt Nam ăn Tết. Tôi cũng cho bà biết mình về thăm mẹ đang bị bệnh. Nghe đến đây bà bỗng rưng rưng nước mắt, nghẹn ngào nói:

-Tết năm rồi tui cũng về thăm bà già tui vì nghe tin bả bịnh. Lúc đó tui cũng không mấy gì được khỏe. Về được hơn tháng thấy má tui bả đỡ đỡ được chút tui phải bay trở lại Mỹ liền vì bên đây mới có bảo hiểm y tế. Dè đâu tui mới về chừng hơn một tuần thì hay tin má tui mất. Tui nằm liệt giường luôn cả tháng trời! Năm nay tui về để làm giỗ đầu tiên cho má tui cô ơi!!!

Nước mắt bà tuông xối xả. Tôi ôm vai bà an ủi:

– Thôi đừng buồn nữa Bác, dẫu sao thì trước khi ra đi Bà cũng rất vui vì có con gái về thăm lần cuối!

Mẹ tôi bệnh, tôi cũng đang về thăm mẹ, nghe bà kể về hoàn cảnh của bà mà tôi bỗng thấy xốn xang trong lòng. Thương cho mẹ bà và cũng thương cho mẹ tôi!

Tôi nhìn những đám mây đang lững lờ trôi ngoài cửa sổ. Mây không có nổi buồn chỉ có tôi đang mang một nổi buồn vời vợi và tôi thầm hỏi lòng không biết tôi sẽ còn nhìn thấy những đám mây này bao nhiêu lần nữa cho đến ngày mẹ tôi nằm xuống!!?

*

Theo đúng lịch trình chúng tôi sẽ đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất khoảng 11:30pm tối 30 Tết. Nhưng vì có sự chậm trễ nên khi máy bay về đến bầu trời của Sàigòn thì chỉ còn ít phút nữa là đến giờ Giao Thừa. Từ trên cao hành khách có thể thấy được cả một Sàigòn đang rực rỡ ánh đèn với những dòng xe cộ chạy nối đuôi nhau không dứt. Phía dưới kia có lẽ mọi người đang đi chùa lễ Phật, đi xin xăm, hái lộc hay đi xem đốt pháo bông? Có khi họ cũng chỉ chạy lòng vòng khắp các ngã đường trong thành phố cho vui rồi chờ qua Giao Thừa sẽ về xông đất chính ngôi nhà của mình?!

Tôi cũng có thể tưởng tượng được cảnh khói hương nghi ngút trong các ngôi chùa trong đêm nay. Vào thời điểm này hầu như chùa nào cũng chật như nêm; nhìn đâu đâu cũng thấy kẻ lạy, người khấn hết sức thành khẩn. Tôi cũng biết rằng giờ đây có khá nhiều người phải đứng ngoài trời, trước cánh cổng của sân bay Tân Sơn Nhất, lúc nữa đêm để chờ đón thân nhân của họ từ một nơi rất xa xôi đang bay về ăn-Tết-với-mình. Nhiều người ở tỉnh xa còn vất vả hơn khi phải ngồi xe từ quê lên, chờ đợi hàng tiếng đồng hồ rồi lại quày xe trở về nhà để kịp trước sáng Mùng Một Tết còn đi chúc Tết họ hàng!

Khi máy bay nhẹ nhàng đáp xuống trên đường băng thì đèn trong khoang cũng bật sáng. Hành khách đã trong tư thế sẵn sàng từ lúc nào. Ngay lúc ấy hai cây kim đồng hồ trên tay tôi đang cùng nhích sang số 12. Phút Giao Thừa đã điểm. Ngoài cửa sổ từng chùm pháo bông đang xé toạt đêm đen bay vút lên không trung tỏa muôn ngàn ánh sáng rực rỡ chói lòa cả một góc trời, như lời chào đón những giây phút đầu tiên của năm mới Ất Mùi đang đến. Mọi người đồng loạt kêu “ồ” lên một tiếng rồi im lặng. Có lẽ họ đang tập trung một lời ước nguyện cho riêng mình trong giờ phút linh thiêng này! Bỗng dưng lúc ấy tôi lại nhớ đến chồng con của mình ở bên này đến muốn khóc!!! Cuộc sống của những sẽ tha hương như chúng tôi sẽ chẳng bao giờ có được một cái Tết sum họp và đoàn tụ thực sự! Luôn luôn mất mát, luôn luôn chia lìa.

Tôi đảo mắt nhìn quanh tự hỏi có bao nhiêu người về ăn-tết-với-mẹ như tôi trên chuyến máy bay này? Bao nhiêu con người là bấy nhiêu hoàn cảnh. Có thể chúng tôi khác nhau ở mục đích trở về nhưng cùng chung một đời viễn xứ và cùng ngồi chung một chuyến bay trong thời khắc này. Và biết đâu trong họ cũng đang dấy lên một dấu chấm than sau cùng một điều ước lớn như tôi: “Phải chi không có ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì giờ này chắc chắn mình đâu phải ngồi đón giao thừa trên cái phi đạo này!!!” Và nếu không có biến cố lịch sử đó thì chắc chắn trong giờ phút này cũng không có cảnh hàng triệu người Việt Nam đang sống rải rác trên khắp hành tinh luôn thấp thỏm, trông ngóng về quê nhà mà nghe lòng quặng một nổi đau!!

*

Bây giờ là những ngày cuối cùng của năm Ất Mùi. Nhìn những chậu cúc vàng, những hộp bánh mứt bày bán trong chợ Châu Á là tôi có thể đoán được Tết Bính Thân đang đến rất gần. Tôi bỗng nhớ đến hai người phụ nữ do hữu duyên mà gặp gỡ trong chuyến về Việt Nam năm rồi. Chẳng biết Tết này họ có về thăm nhà nữa hay không? Riêng gia đình tôi, chị tôi và con gái sẽ từ Đức bay về ăn-Tết-với-mẹ nên chúng tôi cũng yên tâm phần nào. Chắc mẹ chúng tôi sẽ vui-hơn-Tết!

Vài tuần trước tôi có đọc được bài viết: Nổi buồn cuối năm. Nổi buồn cuối đời của Nhà Văn Huy Phương, trong đó có đoạn:

Người ta có thể mỗi năm tổ chức những chuyến du lịch bắt buộc, ra ngoài để mở tầm mắt trước thế giới, nhưng “nhắm mắt” làm ngơ về một lần sắp xếp thời gian đi thăm cha mẹ già…

Thế hệ của chúng tôi giờ đã khác xa với những người trẻ tuổi được sinh ra và lớn lên tại đất nước này quá nhiều. Trong đêm Giao Thừa hay New Years Eve, có lắm kẻ sẽ không thể bỏ qua những buổi tiệc thâu đêm trong các club hay quán bar. Nhưng! Để nhấc điện thoại lên nói lời chúc mừng năm mới với đấng sinh thành đang sống cách họ chỉ vài đoạn đường hay vài tiếng lái xe đã là chuyện khó; thì huống chi việc họ phải ngồi máy bay suốt gần 24 tiếng đồng hồ hay hơn thế nữa để về thăm cha mẹ ở một nơi xa xôi bên kia vòng trái đất thì quả là điều không tưởng!!!

Tôi đã đến nhiều nơi chăm sóc người già vô-gia-đình tại Việt Nam và tôi cũng đã từng đến Viện Dưỡng Lão ở Mỹ, ở Đức… Nhìn những mái tóc bạc phơ xơ xác, những đôi mắt vô hồn mệt mỏi, những khuôn mặt câm nín cam chịu; tôi hiểu được rằng cũng chính những con người này, không xa lắm đâu, họ cũng đã từng có một gia đình hạnh phúc, một cuộc sống viên mãn như bao người! Và biết đâu chừng họ cũng đã từng có một thời vàng son đứng trên tuyệt đỉnh vinh quang hay quyền uy tột bực! Nhưng giờ đây họ cũng chỉ còn lại những nỗi đau của thân và tâm… âm ỉ đến cuối đời!!! Thế mới biết dù cuộc sống hôm nay có văn minh hiện đại cách mấy; dù con người có thám hiểm đến sao Kim, sao Hỏa; có chinh phục vũ trụ, thiên hà đi chăng nữa thì nói theo cách của nhà thơ Trần Dần là: Nỗi Buồn Ga Cuối Còn Nguyên!

Tôi biết thế và tôi cũng sẽ phải chấp nhận thế thôi!

Giáp Tết Bính Thân

Nguyễn Bích Thủy

Nguồn: Việt Báo Cali.

 

Bài của Ls Thiện Ý trong mục Bạn Đọc Làm Báo trên VOA tiếng Việt ngày 08/02/2015

Vì sao cựu-tân TBT Nguyễn Phú Trọng trắng trợn nói sai sự thật như thế?

Chúng tôi gọi cựu-tân Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vì ông Trọng nguyên là Tổng Bí thư Khóa XI, nay lại được Đại hội đảng XII tái bầu làm Tổng Bí thư Khóa XII.Trong cuộc họp báo kết thúc đại hội, ông Nguyễn Phú Trọng đã nói sai sự thật hai điều:

– Một là ông rất ngạc nhiên «tôi không ngờ» khi được tái cử ở tuổi 72, quá với tuổi qui định phải về hưu đến 7 tuổi, nhưng là đảng viên Ông “đành phải chấp nhận sự phân công của Đảng”, không được chối từ.

– Hai là ông đã lên tiếng bác bỏ những chỉ trích về chế độ độc tài toàn trị của đảng Cộng sản VN. Theo ông, chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách «dân chủ hơn hẳn» một số nước có tổ chức phổ thông đầu phiếu “nhân danh là dân chủ nhưng cá nhân quyết định tất cả” và cho rằng Việt Nam “dân chủ đến thế là cùng”.

Hai câu hỏi được đặt ra: Vì sao ông Trọng giám nói sai sự thật như thế và khi nào Ông Trọng mới dám nói đúng sự thật?

Quý bạn nhấn vào hàng tiêu đề để đọc toàn văn.

Tài liệu mật: Ủy Ban Kiểm Tra TW báo cáo 5 vấn đề về Nguyễn Tấn Dũng

Nguồn: danluan.org

Ba câu hỏi cho Hoàng Hưng

LTS: Cuộc trao đổi dưới đây giữa nhà văn Phùng Nguyễn và nhà thơ Hoàng Hưng được thực hiện qua email trong tháng 9 và 10 năm 2015, được hai bên dự định công bố vào cuối tháng 11 năm 2015. Không ngờ, nhà văn Phùng Nguyễn từ trần ngày 17 tháng 11 năm 2015.  Nay nhà văn Hoàng Hưng đề nghị công bố bài phỏng vấn như một nén nhang thắp trước di ảnh nhà văn Phùng Nguyễn nhân dịp 49 ngày mất của anh. Sự hiển thị của “Ba Câu Hỏi” trong ngày đầu tiên của năm 2016 cũng là cách ghi nhớ ngày sinh nhật mùng Một tháng Giêng, cùng những nguyện vọng bất tử của người đồng sáng lập tạp chí văn chương mạng Da Màu.

Chị Chỉ ba con năm em tìm thấy Lá
Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn! *

Nhà thơ Hoàng Hưng đọc thơ tù ở Chicago vào năm 2003

Phùng Nguyễn:

Tìm đủ ba câu để hỏi nhà thơ Hoàng Hưng mà không phải lập lại của người khác cũng đủ gây nhiều phiền hà cho người viết. Bởi vì ai cũng biết là, ít nhất, một trong số những câu hỏi chém chết cũng liên quan đến vụ án Về Kinh Bắc (VKB), bắt nguồn từ tập thơ nổi tiếng của nhà thơ Hoàng Cầm.

Năm năm về trước, nhà thơ Hoàng Hưng cho công bố trên mạng talawas một bài viết trong đó ông kể lại diễn tiến của vụ án Về Kinh Bắc một cách khá chi tiết. Sau đó, thỉnh thoảng ông cũng có trở lại với đề tài này trong một số bài viết khác. Sẽ là bất công nếu buộc ông phải lập lại những điều đã nói, cho nên, chọn lựa còn lại của người phỏng vấn là đề nghị nhà thơ Hoàng Hưng chia sẻ với bạn đọc những điều chưa nói hoặc/và những điều còn chưa nói hết trong vụ án Về Kinh Bắc.

Thưa anh Hoàng Hưng, là “một trong số những nhà thơ trẻ nổi bật của ‘thế hệ chống Mỹ’”, và mặc dù “tư tưởng ngày càng ‘diễn biến hòa bình’ do tác động của cuộc sống và sách vở tàn dư của chế độ Sài Gòn,” vào năm 1982 anh không phải là người bị chế độ chú ý cho đến khi anh, con cá hẩm hiu, vô tình chui đầu vào lưới. Đã ba mươi năm trôi qua kể từ ngày anh ra tù (31/10/1985) sau khi nhà cầm quyền “cất vó” Về Kinh Bắc và trao tặng anh 39 tháng tù giam. Nhìn lại, vụ án Về Kinh Bắc đã đóng vai trò gì trong đời sống, trong tư duy, và trong hành động của Hoàng Hưng suốt ba thập kỷ qua?

Hoàng Hưng:

Ở tù, nhất là tù Cộng sản, dĩ nhiên là khổ. Không ít người đã chịu nhiều đau thương, bị tra tấn, hành hạ dã man, thậm chí bị giết dần trong lao tù và các trại cải tạo. Riêng chế độ lao tù của tôi thì không đến nỗi quá khắc nghiệt, có lẽ do hoàn cảnh chung của Việt Nam lúc đó kiệt sức sau khi bị Tàu Cộng đánh phá nên buộc phải “mở trại” cho các gia đình tù nhân thả sức tiếp tế. Với tôi, đáng lên án nhất là việc bắt tôi đi tù 39 tháng đã gây cho gia đình vợ dại con thơ của tôi rất nhiều khổ sở.

Sau 30 năm, giờ nhìn lại, tôi hơi thấy buồn cười là có khi mình phải cảm ơn thời kỳ ấy!

Đầu tiên là nhờ nó mà tôi học được tiếng Anh. Sau thời gian đi “cung” liên tục căng thẳng đầu óc, thì tôi giành toàn bộ thời gian từ lúc mở mắt đến khi nằm lăn ra ngủ để… tự học. Vì ở ngoài lo chạy ăn tối ngày không bụng dạ nào mà học. Trong xà lim tôi tự học qua sách Ngữ pháp tiếng Anh (của VN), từ điển Anh-Pháp bỏ túi (của Pháp), và báo Moscow News (của Liên Xô)! (Lần đầu sang Mỹ năm 2003, phải “lecture” về Thơ VN hiện đại ở Đại học Washington, khi tôi xin “excuse my English…” vì lý do tự học như trên, nói không chuẩn nghe không rành, cả phòng vỗ tay hồi lâu!). Ra tù một cái là kiếm sống bằng dịch các bài báo, và cuốn sách đầu tiên: “The Jungle Book” của R. Kipling. Với cái vốn khởi đầu ấy, tôi bắt đầu tìm hiểu thơ Mỹ, vừa dịch vừa học, đến nay cũng ra được vài tập. Cái này giống nhà thơ Tuân Nguyễn bị tù thời “Xét lại”, (tình cờ trước đây cũng ở trại Cẩm Thủy Thnh Hóa như tôi), trong tù anh tự học tiếng Nga và ra tù trở thành dịch giả, mở đầu là cuốn “Chó Bim trắng tai đen”.

Do tập trung học tiếng Anh suốt ngày, đêm đến tôi ngủ rất ngon. Một sáng sớm tỉnh dậy thấy “Ông quản giáo” đứng ngoài song sắt nhìn mình từ lúc nào, “ông” thốt lên: “Thằng này trông như đ. phải tù!”

Thứ hai: nhờ thời gian tù mà tôi có được 30 bài thơ, chủ yếu làm trong đầu, ra tù nhớ lại, rồi thêm bớt, thành tập “Ác mộng”, trong đó có những bài được nhiều người đọc tán thưởng, như “Một ngày”, “Người về”, “Mùi mưa hay bài thơ của M.” Cũng nhà tù đã tạo cho tôi một bước ngoặt về thi pháp, từ lãng mạn, ấn tượng, vụt hiện… qua một thứ “tân cổ điển” hay có nhà nghiên cứu gọi là “hiện đại Á châu”. Hình như… đau đời, tâm tư hơn?

Tóm lại, ở tù là mất tự do, nhưng trong hoàn cảnh ấy tôi vẫn cố giữ cho mình một “tự do nội tâm” không ai xâm phạm được. Và cũng như thế, khi ra sống ngoài “nhà tù lớn”, tôi vẫn cố giữ lấy tự do cá nhân của mình, mà “quản ngục” bây giờ, ngoài Ban Tuyên giáo của đảng Cộng sản, còn có anh chàng rất lợi hại mang tên “danh – lợi”.

Điều hết sức quan trọng nữa: Ở tù ra, tôi dứt điểm được cái tư cách “cán bộ báo chí hạng bét”, chân trong-chân ngoài, chân ngoài dài hơn chân trong hay đồng sàng, dị mộng mà trước đây dù sớm chán ghét nhưng mãi không đủ dũng cảm để từ bỏ; tự nhiên được đứng hẳn vào hàng ngũ “bên lề” cùng với các đàn anh Nhân Văn-Giai Phẩm, Xét lại…, để đến khi “Đổi mới” rồi khi phong trào Dân chủ nhóm lên, tôi thoải mái tham gia như cá gặp nước, như hổ về rừng, chẳng vướng bận chút quyền lợi gì do chế độ bố thí, kể cả các thứ “bánh vẽ”, nên không hề lâm cảnh ngộ “há miệng mắc quai” như một số người khác. Thử hình dung: Nếu không bị tù, thì giờ này tôi có thể vẫn chỉ là một chú bé nhiều tuổi viết báo “lề phải” lăng nhăng, viết theo chỉ đạo của “trên”, thỉnh thoảng “ghé gẩm” vài chữ nói kháy, chọc ngoáy tí ti cho bõ tức là cùng chứ gì?

Ra tù, sau vài năm luyện “nghề báo thứ thiệt” tại vài tạp chí khoa học, kinh tế, với sự dẫn dắt của anh em họa sĩ-nhà báo Sài Gòn Hoàng Ngọc Biên-Hoàng Ngọc Nguyên (trước khi vào tù tôi chỉ quen làm báo “bao cấp”, tức “giả báo”), gặp lúc báo Lao Động làm cuộc “cách mạng” với tờ Lao Động Chủ nhật vào năm 1990, chính cái lý lịch “tà-ru” (“bộ lạc tà-ru” là sáng tạo của André Menras, cựu tù Côn Đảo dưới chế độ Sài Gòn) của tôi đã khiến Tổng biên tập “Đảng viên nhưng mà tốt” là Tống Văn Công khoái chí mời về phụ trách trang Văn hóa-Văn nghệ cùng lúc với họa sĩ Chóe “cựu tù double”. Một thời gian ngắn ngủi nhưng hạnh phúc của tôi trong nghề báo chính là ở báo này, cùng làm việc với những nhà báo dày kinh nghiệm của Sài Gòn cũ: Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức… và những cây bút cấp tiến tài hoa của miền Bắc như Lưu Trọng Văn. Tôi còn nhớ khi được mời làm Trưởng ban VH-VN, tôi từ chối, với lý do “quan điểm của tôi không giống quan điểm Ban Tư tưởng Văn hóa của Đảng” thì các vị lãnh đạo Báo lại bảo: “Thế mới cần đến anh chứ!” Tôi đã thể hiện rõ quan điểm của mình trong những bài giới thiệu các nhân vật Nhân Văn-Giai Phẩm như Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng, bênh vực tiểu thuyết “Miền hoang tưởng” của Nguyễn Xuân Khánh (bị báo Công an và Tuyên giáo đánh), quảng bá tranh trừu tượng, minh oan cho Alexandre de Rhodes… Còn Lưu Trọng Văn thì đã đăng bài phỏng vấn một nghệ sĩ danh tiếng về Đảng, với cái tít: “Đảng phải tự lột xác nếu không muốn bị lột xác!”. Tất nhiên làm báo kiểu chúng tôi thì chẳng mấy chốc bị tuýt còi. Vì không muốn gây phiền cho tờ báo mà mình đang làm việc, tôi đã viết đơn “xin từ nhiệm trưởng ban” sau khi công bố tập thơ “Người đi tìm mặt” (1994) trong đó có mấy bài Thơ Tù (công an đã “hành” nhà thơ Quang Huy, Giám đốc NXB một thời gian khá dài, và “méc” ông Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động là chủ quản báo Lao Động của tôi).

Cũng thời gian này, tôi cùng với cố nhà văn Nhật Tuấn làm tập san văn chương Văn học & Dư luận (do nhà văn Nhật Tiến tài trợ), ra được mấy số thì… bị rút giấy phép, sau khi đăng bài thơ “Phận chó” của cố họa sĩ Tường Vân ở Hải Phòng (… bảo ra đường/ ra đường/ bảo vào gầm giường/ vào gầm giường/ bảo sủa/ sủa/ bảo im/ im/ cứ thế triền miên/ một đời con chó).

Báo Lao Động thời Đổi mới nhanh chóng tan đàn xẻ nghé vì nội bộ mất đoàn kết tạo cớ cho lãnh đạo cao cấp của Đảng và An ninh can thiệp. Không còn diễn đàn trong nước, thì gặp lúc nhà văn Phạm Thị Hoài mở trang mạng talawas ở Berlin, tôi đã sớm cộng tác với nó và trở thành biên tập viên công khai, chuyên về văn hóa văn nghệ quốc nội, rồi người viết mục bình luận. Talawas nghỉ, thì xuất hiện Bauxite Vietnam, tôi cũng vinh dự tham gia từ những ngày đầu rồi làm BTV cho nó cho đến khi vanviet.info ra đời.

Tóm lại, ra tù tôi mới được làm báo “thứ thiệt”, báo “lề giữa” và “lề trái”!

Cũng do thân phận công dân hạng hai của một kẻ có “tiền án tiền sự”, tôi biết mình phải tự lo lấy việc xuất bản thơ phú của bản thân, không hòng mong được người ta đem tiền thuế của dân mà in sách cho mình. Sau “Đổi mới”, tôi là kẻ đầu tiên bỏ tiền tự in “Thơ ngoài luồng” với giấy phép mua của các nhà xuất bản (“Ngựa biển” 1988, sau đó là “Người đi tìm mặt”, “Hành trình”, “Thơ Federico Garcia Lorca”, mới nhất là “Bài hát chính tôi” của Walt Whitman). Đó là không kể mấy cuốn sách dịch được tài trợ của nước ngoài (Thơ Apollinaire, 15 nhà thơ Mỹ TK XX, Thơ André Velter, “Trường ca Aniara” của Harry Martinson, tiểu thuyết “Đồ vật” của Georges Perec). Đến những năm gần đây thì cái tên tôi rất khó qua nổi bàn duyệt của Cục Xuất bản, tôi bèn tự làm tủ sách HHEBOOK (vào năm 2012, dịp tôi tròn 70 tuổi) để tự quảng bá online.

Tôi có một nguyên tắc hoạt động, có lẽ cũng từ kinh nghiệm “làm việc với công an” những ngày ở tù: công khai danh tính và việc làm mọi lúc mọi nơi, không có gì là “bí mật”. Tôi cho đó là cách tự bảo vệ an toàn nhất, vì như thế tránh được mọi sự suy diễn, đơm đặt bất lợi cho mình. Tất nhiên mình phải tin ở chính nghĩa của những việc mình làm.

Trong tù, tôi có những giấc mơ lạ, đến nay cũng chưa lý giải nổi. Tôi thường mơ thấy mình ở trong một ngôi chùa, chơi với các sư và ni cô; có lúc sư dạy tôi nhảy cao lên tận xà ngang chánh điện, có lúc Phật Bà cho tôi một cái chiếu, tôi ngồi lên, chiếu bay ra ngoài cửa sổ đưa tôi đi một quãng rất xa, rồi… lại bay về; có lúc ngồi thuyền với các ni cô đi chơi Hồ Gươm… Nhưng lạ nhất là một đêm, một ni cô nhìn thẳng vào tôi và đọc hai câu này: “Muốn giữ đầu lên cầu mà đứng/ Đi đến gần thì bưng lấy đầu”. Tôi sực tỉnh, ghi nhớ mãi hai câu ấy. Phải chăng đó chính là nguyên tắc xử thế mà ni cô muốn dạy tôi? Chuyện có vẻ hoang đường, nhưng sau khi ra tù, tôi mới được biết nơi giam giữ tôi nguyên là đất của một ngôi chùa làng.

Phùng Nguyễn:

Một trong những chi tiết lý thú mà nhà thơ Hoàng Hưng nhắc đến trong bài viết đã dẫn là “Về Kinh Bắc bắt đầu thành vấn đề nghiêm trọng chính là vì mấy bài thơ này ** được in trên một tờ báo ở Pháp kèm theo lời bình mang tính chống đối chính trị.” Và “vấn đề nghiêm trọng” này đã dẫn đến việc nhà thơ Hoàng Hưng, cùng với tác giả Hoàng Cầm, vào mùa Thu năm 1982, phải đi tù 3 năm 3 tháng. Hơn 30 năm sau, nhà văn Trần Đĩnh, tác giả của Đèn Cù, một hồi ký không những với nội dung không được hiền lành như Về Kinh Bắc mà còn được xuất bản và phát hành rộng rãi tại Hải ngoại vừa trở về Việt Nam sau một chuyến xuất ngoại mà không rụng bất cứ sợi lông chân nào. Như vậy, có thể kết luận là xã hội Việt Nam đã có những tiến bộ nhất định về các mặt tự do tư tưởng, tự do ngôn luận. Có nên ghi công đầu cho “nỗ lực dân chủ hóa đất nước” của nhà cầm quyền về tất cả những thay đổi khí hậu này hay không, thưa anh Hoàng Hưng?

Hoàng Hưng:

Tất nhiên, nếu là những năm 1980, thậm chí 1990, thì viết lách, hành động như tôi bây giờ chắc chắn phải “đi” lần hai rồi chứ, mà phải là “đi suốt”! (trong những ngày tôi ở tù, vợ tôi đi xem bói, một cô bói rất trẻ ở đường Trương Minh Giảng cũ – Lê Văn Sĩ hiện nay – nói ngay là tôi đang bị tù, và dọa: sau này nếu không chịu tu, sẽ tù lần nữa!). Vậy thì có thể nói như anh là “xã hội VN đã có những tiến bộ nhất định về các mặt tự do tư tưởng, tự do ngôn luận”. Song đó là do công của ai? Chắc chắn không hề là công của nhà cầm quyền! Tất cả những việc nhà cầm quyền làm có vẻ “xả” hơn trước về Dân chủ cho đến nay chỉ là “đối phó tình thế” với diễn biến của tình hình chính trị xã hội trong nước và quốc tế. Tôi chưa hề thấy họ chủ động tiến bước trên con đường dân chủ hóa (hay nếu có thì chỉ là vài bước rụt rè, “bước đi một bước giây giây lại dừng”), mặc dù rất nhiều người tâm huyết, trí thức và cựu công thần của chế độ đã mỏi mồm vạch ra một lộ trình rất an toàn cho công cuộc dân chủ hóa, mặc dù đã có những tấm gương khá thuyết phục như Myanmar, mặc dù kẻ mà họ sợ nhất là chính quyền Mỹ đã thề thốt không tìm cách thay đổi chế độ của VN… Nói gọn, họ không hành xử như trước vì họ không còn khả năng hành xử như trước. Chúng tôi không bao giờ ngây thơ tin vào thiện chí của những người muốn bám víu quyền lực toàn trị đến phút cuối cùng và bằng mọi giá. Chúng tôi cứ làm những việc mà chúng tôi thấy là đúng đắn, có lợi cho đất nước, cụ thể là cho văn hóa giáo dục của người Việt, không xin và không đợi ai cho, như một bộ sách giáo khoa theo quan điểm hiện đại (của nhóm Cánh Buồm do nhà giáo dục Phạm Toàn chủ biên), như một diễn đàn tự do cho các nhà văn trong – ngoài nước (vanviet), như một Quỹ quà Tết cho Tù nhân Lương tâm…; còn nhà cầm quyền xử sự thế nào I don’t care (đó là câu trả lời ngắn gọn cho câu hỏi quan ngại của một giáo sư Mỹ sau khi tôi đọc Thơ Tù trên hội trường của trường Columbia College Chicago năm 2003).

Phùng Nguyễn:

Khi chuyển cho nhà thơ Hoàng Hưng bản thảo bài viết “Văn đoàn Độc lập Việt Nam, Sự kiện hay Cước chú?” để “tùy nghi,” người viết không chắc lắm về phản ứng của ông và của Ban Vận động Thành lập Văn đoàn Độc lập Việt Nam (BVĐ). Trong khi không giấu giếm cảm tình dành cho Văn đoàn Độc lập, bài viết phản ảnh những quan ngại về đường đi nước bước của tổ chức này trong tương lai, đặc biệt về sự “hợp cách” (legitimacy) của một văn đoàn mà nhìn từ nhiều góc độ, không thể được xem là thực sự hiện hữu. Tuy nhiên, bài viết cũng không quên chỉ ra những vận động sáng tạo của BVĐ trong việc xây dựng mạng Văn Việt để ngồi vào chiếc ghế trống dành cho Văn đoàn Độc lập.

Chỉ trong một thời gian tương đối ngắn, Ban Vận động Thành lập Văn đoàn Độc lập Việt Nam, qua mạng Văn Việt, đã có những thành tựu đáng kể trong nỗ lực thực hiện các mục tiêu hướng tới một nền văn học đích thực. Nhà thơ Hoàng Hưng giữ một vai trò trọng yếu trong việc điều hành và phát triển mạng văn học này.

Một ngày của mạng Văn Việt?

Hoàng Hưng:

Trước hết, tôi xin phép cải chính: Hoàng Hưng không giữ “vai trò trọng yếu” ở trang mạng văn học này. Mạng Văn Việt có một nguyên tắc được đề ra ngay từ đầu và vẫn duy trì đến nay: việc điều hành mạng mang tính tập thể. Không có Tổng biên tập, mỗi biên tập viên (BTV) tự chịu trách nhiệm phần của mình, người điều phối chỉ tập họp bài vở và nhắc nhở, trao đổi nhận xét với từng BTV khi cần thiết. Ban biên tập (BBT) Văn Việt bao gồm những nhân vật rất uy tín như nhà ngữ học Hoàng Dũng, nhà văn Ngô Thị Kim Cúc, nhà thơ Ý Nhi, nhà thơ Bùi Chát, nhà thơ Lê Hoài Nguyên (tức cựu đại tá an ninh Thái Kế Toại), nhà văn Đặng Văn Sinh, nhà văn Nguyễn Quang Lập (trong gần 2 tháng đầu), nhà văn Dạ Ngân (trong gần một năm đầu), nhà thơ Giáng Vân (trong một thời gian)… Nếu có những ý kiến khác nhau, nhà văn Nguyên Ngọc chủ nhiệm trang mạng sẽ là người có ý kiến quyết định, nhưng thực tế rất hiếm khi có sự khác biệt lớn giữa các BTV về quan điểm bài vở. Vả lại, Văn Việt là một mạng văn chương “mở” trước các quan điểm nghệ thuật, với tiêu chí chung là “tự do, nhân bản” nên chấp nhận được nhiều khác biệt. Ngoài BBT, có nhiều sáng kiến xuất phát từ các thành viên BVĐ và được BBT tiếp thu nhanh chóng. Ngay cả việc post bài lên mạng cũng không trao độc quyền cho một người. Tóm lại, bất cứ ai trong BBT bị sự cố phải ngưng hoạt động, sẽ lập tức có người khác thay thế.

Cho đến nay, Văn Việt đã tồn tại được gần 2 năm, và ngày càng phát triển (ít ra là về số mục và đề tài, về số tác giả…), bất chấp sự đánh phá không ngừng nghỉ của những thế lực không ưa nó, như: đặt tường lửa, gây sức ép với các thành viên BBT, cộng tác viên… Điều đáng vui nhất là ngày càng nhiều cây bút uy tín cùng những cây bút “tương đối trẻ” và rất trẻ trong nước góp mặt trên Văn Việt (xin chỉ nêu một số tên ở diện sau như: Lê Anh Hoài, Nhã Thuyên, Phạm Phương, Phùng Thị Hạ Nguyên, Đàm Thùy Dương, Di, Lynh Bacardi, Ly Hoàng Ly, Khiêm Nhu, Nguyễn Hoàng Anh Thư, Hà Thủy Nguyên, Lê Ngân Hằng, Lý Đợi, Lê Vĩnh Tài, Tuệ Nguyên, Hà Duy Phương, Huỳnh Lê Nhật Tấn, Lưu Mêlan, Đỗ Trí Vương, Nguyễn Đăng Khoa, Tuệ Anh, Trúc Ty, Đoàn Minh Châu, Thymianka Thảo Nguyên…) Các CTV ở nước ngoài cũng khá đông đảo và phong phú, từ Mỹ, Pháp, Anh, Úc, đến Nga, Đức. Trong tình hình ấy, có những ý kiến đề xuất đã đến lúc chính thức lập ra Văn đoàn Độc lập, nhưng Ban Đại diện của BVĐ đã trao đổi đi đến thống nhất: Vì mục tiêu của Văn đoàn Độc lập là “góp phần xây dựng một nền văn học VN đích thực”, trước mắt là một nền văn học Tự do, Nhân bản – mà đó là một quá trình lâu dài chứ không thể một sớm một chiều – cho nên cần kiềm chế những bức xúc nóng vội có thể biến nó thành “anh hùng liệt sĩ” quá sớm. Văn Việt nghĩ rằng người viết văn nên giành tâm sức nhiều nhất cho trang viết của mình chứ không phải cho việc đương đầu với công an và các lực lượng khủng bố của chế độ toàn trị. Vì thế Văn Việt chọn con đường đi ở biên giới của cái “legal” và cái “illegal”, với niềm tin sẽ đến lúc hoàn cảnh xã hội cho phép nhiều thứ hiện nay bị coi là “illegal” trở thành “legal”. Tất nhiên, tích cực “xé rào” luôn luôn là phương châm hành động của chúng tôi.

“Xé rào” cũng là việc chúng tôi làm “offline” như: xuất bản sách (2 tập truyện ngắn Văn Việt) và lập Giải thưởng Văn Việt (đang bước vào xét Giải lần thứ Nhất sẽ trao vào tháng 3/ 2016).

Và cũng tất nhiên, một nền văn học Tự do, Nhân bản đòi hỏi các tác giả phải là những con người Tự do, Nhân bản, sẵn sàng lên tiếng bảo vệ Tự do của bản thân và đồng nghiệp, Tự do của người đọc, Tự do của tất cả mọi người, phản kháng mọi hành vi phản nhân văn của bất kỳ ai, bất kỳ thế lực nào. Đó chính là “thái độ chính trị” mà không nhà văn đích thực nào có thể né tránh dưới chiêu bài “nhà văn không làm chính trị”. Văn Việt là tổ chức đầu tiên lên tiếng lập tức (và sau đó cũng chỉ có 1,2 tổ chức nhà nước) khi Giàn khoan của Tàu kéo vào vùng biển Việt Nam, khi bọn khủng bố sát hại các nhà báo Charlie Hebdo của Pháp, và là tổ chức duy nhất lên tiếng khi các nhà văn-thơ Phạm Đình Trọng, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Quang Lập bị công an khủng bố, cũng như đã tham gia với những hội đoàn dân sự khác phản đối những chủ trương, việc làm sai trái của chính quyền, bênh vực dân oan…

Để kết thúc, xin có một lời bình luận về câu hỏi này của người hỏi. Đọc bài viết mà nhà văn Phùng Nguyễn có dẫn ở trên, tôi hơi bất ngờ vì tác giả “hiểu chuyện” trong nước, chuyện Văn Việt, không như tôi chờ đợi ở một người xa VN và sống lâu năm ở một xứ “tự do” như anh. Trong khi đó, theo dõi những ý kiến trên mạng lâu lâu có liên quan đến Văn đoàn Độc lập và Văn Việt, post lên từ nước ngoài, tôi thấy cũng có những sự dị nghị, bắt bẻ, chê trách mà tôi chỉ có thể nhận xét là “thiếu thông cảm”, tuy vẫn coi đó là những yêu cầu chính đáng, “đúng như chân lý”, mà chúng tôi chưa thực hiện được.

Có một chuyện nhỏ tôi muốn kể: Năm 2000, lần đầu tiên tôi được phép ra khỏi nước, một dịch giả nổi tiếng bên Pháp đưa tôi đi chơi. Trên đường đi ông liên tục phê phán chuyện dịch thuật trong nước, nhất là của những tên tuổi đàn anh của tôi. Nghe mãi đâm “mệt”, tôi bèn ngắt lời ông: “Anh chê thì đúng rồi, và tôi thấy thế là đủ rồi. Nhưng nếu anh sống trong nước như chúng tôi bao nhiêu năm nay, liệu anh có làm được như chúng tôi không?” Ông im bặt, và từ đó… trở thành thân thiết với tôi, nhiệt tình góp ý sửa chữa tất cả những bản dịch mà tôi gửi cho ông. Hì hì…

Ghi chú:

* Nhại “Lá Diêu Bông,” một trong bộ ba Cây-Lá-Quả của nhà thơ Hoàng Cầm

** Trích Vụ án “Về Kinh Bắc”, một sự kiện “Hậu Nhân văn” của Hoàng Hưng:

Nhưng muốn hiểu vì sao có vụ án “Về Kinh Bắc”, phải ngược thời gian lên mười năm trước, khi một số bài trong bản thảo VKB bắt đầu được truyền tay hơi rộng trong giới yêu thơ, trong đó ba bài “Cây tam cúc”, “Lá diêu bông”, “Quả vườn ổi” (thường được gọi là bộ ba cây-lá-quả) được mến mộ nhất – phần quan trọng vì chúng được xì xầm diễn giải như lời oán trách của “em” (văn nghệ sĩ) với “chị” (Đảng), đại khái “em” yêu “chị”, nhưng “chị” đã lừa “em”, cho “em” ăn toàn “quả rụng”, rồi bỏ mặc “em” bơ vơ để đi lấy chồng…

 

TIỂU SỬ HOÀNG HƯNG

Sinh năm 1942 tại Hưng Yên. Tên khai sinh Hoàng Thụy Hưng, con thứ 6 của ông Hoàng Thụy Ba, một trong những bác sĩ y khoa đầu tiên của Đông Dương tốt nghiệp tại Pháp. Tốt nghiệp Khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội. Dạy học rồi làm báo. Chuyển vào Sài Gòn sống từ 1977. Bị bắt và tập trung cải tạo (từ tháng 8/1982 đế hết tháng 10/1985) vì cầm tập bản thảo Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm và cất giữ những phác thảo thơ của mình trong nhật ký. Trở lại nghề báo năm 1987, về hưu năm 2003, viết bài và biên tập các trang mạng talawas.org, Bauxite Vietnam, đồng sáng lập Ban Vận động Văn đoàn Độc lập VN và trang mạng vanviet.info

Hiện sống tại Sài Gòn, Vũng Tàu.

Các tác phẩm Thơ đã công bố: Đất nắng (in chung với Trang Nghị) 1970, Ngựa biển 1988, Người đi tìm mặt 1994, Hành trình 2005, Ác mộng 2006 (online, talawas.org), 36 bài thơ 2008, Thơ và các bài viết về Thơ HH 2012 (HHEBOOK), Các bài viết về Thơ 2012 (HHEBOOK), Poetry & Memoirs 2012 (International Poetry Library SF).

Thơ dịch: 100 bài thơ tình thế giới (chủ biên và cùng dịch) 1988,Thơ Federico Garcia Lorca 1988, Thơ Pasternak (cùng dịch với Nguyễn Đức Dương) 1988, Thơ Apollinaire 1997, Các nhà thơ Pháp cuối TK XX, 2002; 15 nhà thơ Mỹ TK XX (chủ xướng, tổ chức bản thảo và cùng dịch) 2004, Thơ André Velter 2006; Thơ Thuỵ Điển (cùng dịch) 2010, Trường ca Aniara 2012, Thơ Allen Ginsberg (chủ biên và cùng dịch) 2012 (HHEBOOK), Bài hát chính tôi – Walt Whitman 2015

Phá Sản (tham khảo)

Phá Sản

Nguyễn Nhân Trí

 

clip_image002

Khi nói về phá sản, chúng ta thường nghĩ về sự cạn kiệt tiền tài. Đó là loại phá sản chúng ta thường thấy trên báo chí hay nghe bạn bè nói đến. Phá sản kinh tế tài chánh là một thảm cảnh không ai muốn mình lâm phải.

Có một loại phá sản khác, cũng là thảm cảnh nhưng ở tầm vóc to lớn hơn nhiều. Đó là phá sản chủng tộc.

Khi phá sản tài chánh, một sáng nào đó người ta thức dậy nhìn chung quanh không còn thấy tiền bạc, của cải gì của mình nữa. Khi phá sản chủng tộc, một ngày nào đó người ta mở mắt nhìn chung quanh không còn thấy ai cùng chung sắc dân, cùng chung ngôn ngữ, cùng chung văn hóa, cùng chung lịch sử, cùng chung quê hương xứ sở như mình nữa. Và tương tự như phá sản tài chánh, người bị phá sản chủng tộc cũng không còn tương lai.

Phá sản chủng tộc ít khi xảy ra đột ngột một sáng một chiều. Nó xảy ra dần dần nên nhiều khi người ta không để ý là họ đang trôi dần xuống con dốc phá sản.

Thế thì dấu hiệu gì có thể giúp chúng ta nhận ra là mình đang nằm trên con đường phá sản chủng tộc? Chúng ta thường biết mình đang trên đà phá sản tài chánh khi chúng ta nhìn thấy mình càng lúc càng có ít tiền bạc, của cải. Khi trên đà phá sản chủng tộc, chúng ta nhìn chung quanh sẽ thấy càng lúc càng ít… trẻ con cùng chủng tộc của mình.

Lấy Đức làm thí dụ tiêu biểu cho một số nước Âu Châu như Đan Mạch, Thụy Điển, v.v. Mức độ sinh sản trung bình của mỗi cặp vợ chồng ở Đức là 1,3 con. Có nghĩa là không khác gì trong mấy chế độ giới hạn sinh đẻ 1 con của Trung Quốc trước đây. Toàn bộ hệ thống an sinh xã hội của Đức dựa trên nguyên tắc thế hệ trẻ làm việc sinh lợi tức để nuôi các thế hệ lớn tuổi hơn. Nếu chỉ lấy 1,3 người để thay thế 2 người thì hệ thống nầy không thể hoạt động lâu dài được. Trong tương lai không xa lắm, lợi tức quốc gia sẽ không còn đủ để nuôi sống một dân số ngày càng già yếu đi chớ đừng nói chi đủ sức phát triển để kịp theo bước tiến thế giới. Trung Quốc ngày nay cũng đã hủy bỏ chế độ 1 con vì lý do nầy.

Trong điều kiện lý tưởng, hệ thống an sinh xã hội của các nước như Đức phải giống như một mô hình kim tự tháp: thế hệ trẻ chiếm đa số nằm phía dưới nhất, lên dần bên trên là các thế hệ cao niên hơn, đến thế hệ lão niên đã về hưu chiếm dân số nhỏ nhất nằm trên đỉnh. Hệ thống dạng nầy dùng lực lượng lao động trẻ làm nguyên liệu xây dựng nền móng kinh tế lớn vững nâng đỡ các thế hệ lớn tuổi hơn phía trên. Hiện nay, hệ thống an sinh xã hội ở các quốc gia trên bắt đầu giống một mô hình kim tự tháp nằm ngược đầu: nền móng phía dưới ngày càng nhỏ hẹp trong khi phần đỉnh ngày to lớn nặng nề hơn. Một xã hội với cấu trúc nầy sẽ sụp đổ một ngày không xa.

Vấn đề là người dân Đức nói riêng và nhiều dân tộc Âu Châu nói chung không thích sinh đẻ nhiều. Vì một số lý do khác nhau, mức độ sinh sản của Âu Châu, và Bắc Mỹ cũng như Úc Châu, rất thấp. Càng ngày càng thấp. So với Á Châu. So với Phi Châu. So với Trung Đông.

Nói về phá sản chủng tộc, các quốc gia trên đang trên đà lao xuống cái hố thẳm đó. Phá sản chủng tộc sẽ dẫn liền theo phá sản kinh tế. Và Đức là một nước đứng đầu. Và họ cũng nhận thấy điều đó.

Thế thì nước Đức làm gì? Giới lãnh đạo Đức đã nảy ra một sáng kiến thần kỳ: nếu cần nhiều người trẻ để làm nền tảng cho cái kim tự tháp an sinh xã hội mà không sản xuất trong xứ được thì chúng ta cứ nhập cảng họ vào từ nước ngoài. Và vì đó Đức đã mở rộng vòng tay đón nhận hàng triệu di dân Hồi Giáo vào trong nhiều đợt từ những năm 1960. Di dân Hồi Giáo nổi tiếng sinh sản nhiều. Như vậy không bao lâu sau, theo kế hoạch trên, nước Đức sẽ có đầy đủ lực lượng trẻ để làm việc cho nền kinh tế Đức. Và những người cao niên trong xứ sẽ không còn bị bắt buột phải làm việc khi già yếu nữa vì hệ thống an sinh xã hội quốc gia sẽ bảo trợ cho họ đến khi họ nhắm mắt.

Tuy nhiên, sáng kiến trên có một lỗ hổng lớn. Ngay cả nếu không nói gì đến vấn đề an ninh liên quan đến khủng bố, hay vấn đề văn hóa Hồi Giáo cực đoan như luật lệ Sharia, sáng kiến nầy chỉ hiệu nghiệm nếu những người di dân đến Đức quan tâm đến việc tìm kiếm việc làm và chịu đi làm việc.

Vấn đề là không có gì bảo đảm rằng những người di dân hiện nay đang tràn ngập qua biên giới Đức sẽ đóng góp sức lao động của họ vào nền kinh tế Đức. Thật ra có nhiều bằng chứng cho thấy chuyện nầy sẽ không xảy ra như giới lãnh đạo Đức dự tính.

Nếu nhìn vào những di dân Hồi Giáo hiện đã sinh sống ở Đức, cũng như ở các nước Âu Châu lân cận, thì sẽ thấy. Tỉ lệ thất nghiệp trung bình trong các cộng đồng di dân Hồi Giáo là 30-40%. Riêng giới trẻ di dân Hồi Giáo, tỉ lệ thất nghiệp ở khoảng 50-60%. Có nghĩa là chưa đến 2 di dân Hồi Giáo trong tuổi lao động là có một người không làm việc, và ở nhà lãnh trợ cấp xã hội.

Nhiều người cho rằng những người di dân Hồi Giáo không tìm được việc làm là vì họ chưa thích ứng được với nền văn hóa xa lạ Âu Châu. Hoặc là vì họ không được cung cấp đầy đủ điều kiện huấn luyện nghề nghiệp. Hoặc là vì họ không được dân bản xứ cho cơ hội làm việc.

Một thiểu số di dân Hồi Giáo có học vấn cao đã rất thành công khi đến nhập cư ở các nước Âu Châu. Họ chịu khó đi tìm việc làm và chịu khó làm việc. Họ chịu khó trong việc hòa nhập vào xã hội Tây Phương. Họ trở thành những người có công ăn việc làm ổn định, kể cả các nghành nghề có địa vị trong xã hội. Trong khi đó phần lớn lại không kiếm được việc làm và do đó không có đủ lợi tức để nuôi thân. Lý do chính là vì phần đông những người nầy đã không hề có cơ hội ở xứ sở họ để đạt đến một trình độ học vấn cần thiết cho việc hòa nhập vào đời sống trong các nước Tây Phương. Cộng đồng di dân Somali chẳng hạn là một thí dụ rõ rệt nhất. Chỉ có khoảng 18% trẻ em trai và 15% trẻ em gái ở Somali được đi học đến bậc tiểu học.

Thật ra là còn một lý do khác nữa, liên quan đến vấn đề văn hóa. Nhiều di dân Hồi Giáo đến từ những xứ sở mà con người bóc lột nhau ở đủ mọi phương diện. Phần lớn họ nằm trong thành phần bị bóc lột từ thế hệ nầy đến thế hệ khác. Họ đã phải suốt đời lao động cực nhọc để phục vụ giai cấp chủ nhân của họ. Họ chỉ có thể phản kháng bằng cách tránh né việc làm khi nào họ có thể. Họ không hề có khái niệm gì về đóng góp xây dựng xã hội. Bây giờ nếu tránh khỏi cần đi làm mà vẫn được có tiền trợ cấp để sống thì tại sao họ phải bận tâm? Suốt đời họ đã là những người bị lợi dụng nên bây giờ nếu có thể lợi dụng được người khác thì họ sẽ không ngần ngại gì cả.

Theo thống kê quốc gia năm 2011, tổng số di dân Hồi Giáo ở Đức khoảng 1,5 triệu người (tức là 1,9% tổng dân số Đức). Tuy nhiên, con số nầy được xem là không chính xác vì rất nhiều người không kê khai tôn giáo của họ trong các cuộc thống kê dạng nầy. Năm 2009, người ta dùng các dữ kiện xã hội khác để ước đoán con số di dân Hồi Giáo ở Đức thật ra là 4,3 triệu (tức là 5,4% tổng dân số). Hiện nay con số nầy ước lượng khoảng 5,8 triệu.

Theo tài liệu mới được tiết lộ, Đức hiện đang trù tính sẽ nhận vào hơn một triệu người tị nạn Hồi Giáo mỗi năm bắt đầu từ 2016. Nếu tính đến chính sách bảo lãnh đoàn tụ gia đình, mỗi cá nhân sẽ bảo lãnh mang vào Đức thêm trung bình 4 đến 6 thân nhân nữa. Có nghĩa là các con số di dân Hồi Giáo ở Đức sẽ gia tăng cấp lũy thừa trong vòng vài thập niên tới.

Ông Uwe Brandl, Chủ Tịch của Hội Đồng Hành Chánh Bavarian, ước đoán đến năm 2020 nước Đức sẽ có tổng cộng không dưới 20 triệu di dân Hồi Giáo. Số lượng nầy sẽ thay đổi bộ mặt xã hội của Đức toàn diện và vĩnh viễn. Ông Brandl cho biết nếu không kiềm chế mức độ thu nhận người tị nạn Hồi Giáo vào Đức ngay bây giờ thì sẽ xảy ra tình trạng rối loạn xã hội không cứu chữa được.

Mỗi gia đình tị nạn có 4 người hiện nay được lãnh trợ cấp khoảng 1200 euro mỗi tháng, chưa kể phụ cấp nhà cửa và thực phẩm. Tiền trợ cấp của một gia đình bản xứ người Đức về hưu sau khi đã bỏ công sức làm việc 30 năm cũng chỉ hơn con số đó rất ít. Thêm vào đó, chế độ bảo hiểm sức khỏe của hai gia đình trên đều giống y nhau. Điều nầy sẽ nảy sinh nhiều câu hỏi về sự công bằng trong quyền lợi xã hội. Có nhiều phe nhóm trong người bản xứ Đức hiện đang rất quan tâm về vấn đề nầy ở nhiều mức độ và bằng nhiều phương cách khác nhau.

Những người nầy cho rằng chính sách nhập cư thả cửa của Nữ Thủ Tướng Angela Markel hiện nay sẽ dẫn đến một bất ổn chính trị trầm trọng. Nếu đại đa số những di dân Hồi Giáo đã đến sinh sống ở Đức từ bao năm qua vẫn tiếp tục tự cô lập trong những cộng đồng riêng biệt của họ thì không có hy vọng gì để thấy hàng triệu người tị nạn Hồi Giáo sắp đến sẽ chịu hòa nhập với người bản xứ Đức.

Nhiều người cũng lo lắng về vấn đề an ninh quốc phòng. Một số chính khách cao cấp cho rằng chính sách di dân thả cửa đang nhập vào Đức các thành phần Hồi Giáo cực đoan và các mầm móng khủng bố. Những cơ quan an ninh Đức cũng nhìn nhận hiện nay họ không có khả năng kiểm soát và gạn lọc các thành phần nầy. Hơn nữa, sự khác biệt về văn hóa lẫn mức hiểu biết về luật pháp quốc gia sẽ gây ra xung khắc lớn về quan điểm chính trị lẫn quyền lợi xã hội giữa những phe nhóm khác nhau trong nước. Các phe nhóm trên, ủng hộ hay phản đối việc di dân, sẽ phản ứng bằng cách nầy hay cách khác. Các vụ tấn công tình dục tập thể ở Cologne trong đêm Giao Thừa 2015-16 vừa qua làm cho tình thế thêm căng thẳng. Tất cả những sự việc trên sẽ làm đời sống người dân Đức bất an và tệ hại hơn.

Ngay Phó Thủ Tướng Sigma Gabriel và Bộ Trưởng Ngoại Vụ Frank-Walter Steinmeier sau nhiều tháng bênh vực chính sách di dân của bà Angela Merkel mới đây cũng đã thố lộ nỗi lo âu của họ. Họ thú nhận rằng chính sách nầy đang gây chia rẽ xã hội Đức trầm trọng. Họ nói Đức rõ ràng không thể tiếp tục thu nhận số lượng di dân như thế nầy nữa. Bộ Trưởng Tài Chính Markus Soder cũng cho biết Đức cần phải giới hạn số lượng di dân và số người tị nạn hiện đang ùa qua biên giới Đức chỉ có thể ngưng lại nếu chính quyền Đức đóng cửa biên giới lập tức và loan báo rõ ràng rằng không phải bất cứ ai cũng có thể tự tiện xâm nhập vào lãnh thổ Đức.

Cựu Bộ Trưởng Nội Vụ Hans-Peter Friedrich chỉ trích chính sách di dân của bà Merkel là một “lỗi lầm chính trị to lớn chưa từng thấy” và nó sẽ “mang đến những hậu quả thảm hại lâu dài”. Ông kết luận về làn sóng tị nạn hiện nay, “Chúng ta đã hoàn toàn mất kiểm soát.”

Vào tháng Mười vừa qua, hơn 200 thị trưởng của vùng North-Rhine Westphalia đã đồng ký kiến nghị đến Thủ Tướng Merkel. Họ cảnh báo rằng họ không còn sức thu nhận người tị nạn nữa. Bức kiến nghị nầy bày tỏ sự hết sức lo lắng của họ cho những thành phố, những tỉnh lỵ, những thôn làng trong vùng về số lượng người tị nạn khổng lồ đang tiếp tục tràn ngập vào vô giới hạn. Các chính quyền địa phương không còn chỗ cho người tị nạn ở nữa. Tất cả nhà cửa có thể dùng làm nơi cư ngụ, lều trại và ngay cả các kiện hàng tàu chế biến lại, đều đã cạn kiệt. Các thị trưởng cho biết địa phương họ đang trong tình trạng khủng hoảng. Họ đang dồn hết tài nguyên để cố giải quyết vấn đề di dân nầy và không còn khả năng để làm việc gì khác nữa cả.

Cũng trong tháng Mười vừa qua, Thủ Tướng Hungary ông Viktor Orban đã cảnh báo rằng toàn thể Âu Châu đang đứng trước một thảm họa vĩ đại. Vấn đề di dân hiện nay có thể làm lung lay nền móng chính quyền của một số quốc gia. Ông nói luồng sóng di dân chúng ta đang thấy hiện nay không chỉ là những người tị nạn chiến tranh mà còn là vô số người tị nạn kinh tế lẫn những phiến quân quá khích đang trà trộn trong đó. Số người di dân nầy ngày càng đang lớn hơn. Không những chỉ từ Syria mà bây giờ còn từ Iraq, Pakistan, A Phú Hãnh và các nước Phi Châu nữa. Hiện nay, số người tị nạn đang trên đường tiến vào các thị trấn ven biên Đức là khoảng 10 ngàn người mỗi ngày. Theo ông, số lượng và thành phần của làn sóng di dân nầy đã đạt đến một mức độ nguy hiểm cho sự sống còn không những của Đức mà còn của toàn Âu Châu.

Ông Orban đồng ý rằng bổn phận của chúng ta là phải giúp đỡ những người tị nạn chiến tranh và tị nạn chính trị. Đó là một nghĩa cử nhân đạo đáng được ủng hộ. Giải pháp trước mắt là cung cấp nơi tạm trú và thực phẩm cho họ. Tuy nhiên, nơi họ tạm trú sẽ được tổ chức chặt chẽ và riêng biệt với dân bản xứ. Và chúng ta phải có hoạch định rõ rệt rằng chúng ta sẽ đưa trả những người tị nạn lại quê hương, quốc gia của họ. Chúng ta làm điều đó bằng cách đồng hợp sức giúp họ lấy lại đất nước và xứ sở của họ để họ có thể trở về đó sinh sống lại như trước. Đó là một giải pháp lâu dài thích đáng nhất.

Những người tị nạn nầy không cần phải trở thành thường trú nhân, hay công dân, của Âu Châu. Chúng ta không thể, và không có bổn phận phải cung ứng cho họ một đời sống mới ở Âu Châu. Người dân bản xứ ở Đức, Áo, Hungary, v.v. đã từ bao nhiêu thế hệ đóng góp vào việc xây dựng đời sống tốt đẹp mà chúng ta hiện có ở Âu Châu. Những người nầy có chủ quyền của cuộc sống đó. Các chính phủ Âu Châu có trách nhiệm và bổn phận bảo vệ quyền lợi của người dân trong nước. Những hành động cẩu thả, thí dụ như chính sách di dân tự do đang thấy ở Đức, xâm phạm và hủy hoại quyền lợi cơ bản lẫn sự an toàn trong cuộc sống của người dân bản xứ, và do đó cần phải chấm dứt lập tức.

Ông Orban kêu gọi báo chí hãy tường thuật chính xác những gì đang xảy ra. Chúng ta thấy trên các bản tin của các đài truyền hình những hình ảnh đàn bà trẻ nít nheo nhóc lũ lượt lội bộ hàng trăm cây số tìm nơi tạm trú. Trên thực tế, trong làn sóng tị nạn hiện nay có đến 70% toàn là thanh niên trai tráng mạnh khỏe. Những người nầy xông xáo vào các thị trấn ven biên của Đức với thái độ hung hãn của những đoàn quân xâm chiếm chớ không phải với tư cách của những người tị nạn đang tìm nơi tạm trú.

Đoạn phim ngắn sau đây cho thấy những gì ông Orban diễn tả ở trên.

https://www.youtube.com/watch?v=44vzMNG2fZc

Một điều cần nhận biết là phần lớn những người di dân Hồi Giáo vừa đến Đức gần đây, và các quốc gia lân cận, thật ra không phải là người tị nạn chiến tranh. Ít nhất là trên mặt pháp lý.

Trước hết, không phải tất cả những người nầy đang bỏ chạy khỏi chiến trường Syria. Phần lớn họ xuất phát từ những vùng tuy đói nghèo nhưng không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi chiến tranh. Một số không nhỏ từ các nước khác như Thổ Nhĩ Kỳ lợi dụng thời cơ cỡi theo làn sóng tị nạn để di dân bất hợp pháp sang Âu Châu. Đây chỉ là những người tị nạn kinh tế.

Còn những người thật sự đang chạy loạn vì chiến tranh ở Syria, những người nầy đã không đến Đức trực tiếp từ Syria. Hầu hết họ đã vượt qua biên giới Syria vào đến lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ hay Jordan. Ở Thổ Nhĩ Kỳ và ở Jordan không có chiến tranh. Nếu họ dừng chân đó thì họ là những người tị nạn chiến tranh. Tuy vậy, chế độ an sinh xã hội ở 2 nước nầy rất thấp kém so với ở các nước Âu Châu như Đức, Đan Mạch, Thụy Điển, v.v. Vì vậy những người nầy không chịu dừng lại ở Thổ Nhĩ Kỳ và Jordan. Họ đã không dừng lại ở đó sau khi đã đến nơi an toàn xa khỏi xứ sở chiến tranh Syria của họ. Họ biết ở Đức họ sẽ có một đời sống dễ dàng hơn. Họ biết tiền trợ cấp xã hội ở Đức sẽ nhiều hơn. Vì thế họ quyết tâm và cố tình rời bỏ nơi tạm trú an toàn ở Thổ Nhĩ Kỳ và Jordan để tiếp tục đi đến Đức. Và làm như thế theo định nghĩa họ đã tự biến thành những người tị nạn kinh tế chớ không còn là tị nạn chiến tranh nữa.

Trở lại vấn đề phá sản chủng tộc, thống kê cho thấy các cộng đồng Hồi Giáo người Somalis chẳng hạn khi vào định cư ở Thụy Điển có tốc độ sinh sản gấp 4 lần người bản xứ Thụy Điển. Tên Mohammed chiếm số đông nhất trong những tên hiện nay của toàn dân số nước Anh. Điều quan trọng hơn nữa là số lượng trẻ con Hồi Giáo dưới 4 tuổi ở Anh hiện chiếm khoảng hơn 9%.Tương tự ở Na Uy, tên Mohammed chiếm 10% trong trẻ con trong nước nầy. Ở Đức, ít nhất 10% trẻ mới sinh ra có cha mẹ là người Hồi Giáo.

Khi nói đến sự sống còn của một chủng tộc, nhóm dân số quan trọng nhất theo thứ tự từ thấp đến cao là những nhóm dưới 30 tuổi, dưới 20 tuổi, và kế đó là dưới 4 tuổi. Nhóm dân số ở tuổi trung niên và thanh thiếu niên tuy giữ phần sản xuất xây dựng kinh tế hiện tại, nhóm trẻ con mới chính là tương lai của dân tộc. Thành phần trẻ con nào lớn nhất trong một nước sẽ định đoạt bộ mặt xã hội và văn hóa của nước đó trong tương lai.

Ở Mỹ Châu và Úc Châu cũng không miễn nhiễm về vấn đề phá sản chủng tộc. Tuy với các số lượng di dân nhỏ hơn, tốc độ sinh sản của cộng đồng Hồi Giáo ở các quốc gia nầy vẫn không kém gì ở Âu Châu. Ở Mỹ, kể từ ngày 11 tháng Chín 2001 đến nay, dân số Hồi Giáo đã tăng lên thêm hơn 67%.

Hiện nay lứa tuổi trung bình của dân bản xứ Đức là 46 tuổi trong khi lứa tuổi trung bình của cộng đồng Hồi Giáo ở Đức chỉ là 34 tuổi. Càng nhiều thanh niên trai trẻ di dân gia nhập thêm vào các cộng đồng Hồi Giáo ở Âu Châu thì các cộng đồng nầy sẽ càng trẻ hơn nữa so với các cộng đồng dân bản xứ ngày càng già nua đi. Trong một dân tộc, cộng đồng nào có dân số trẻ nhất sớm muộn gì cũng sẽ chiếm giữ vị thế nhân chủng mạnh nhất trong dân tộc đó. Trong một quốc gia dân chủ, cộng đồng nào sinh sản mạnh nhất sớm muộn gì cũng sẽ chiếm giữ quyền lực chính trị của quốc gia đó. Một cộng đồng lớn mạnh nhất về mặt nhân chủng lẫn chính trị trong một quốc gia nắm chủ quyền của quốc gia đó.

Nói cách khác với tình hình Âu Châu hiện tại, nếu không có biện pháp cứu vãn thích hợp nào được áp dụng nhanh chóng và cứng rắn thì trong tương lai không xa lắm Âu Châu sẽ là một lục địa với đại đa số dân cư là người Hồi Giáo gốc Trung Đông và Phi Châu. Sẽ có một thay đổi rất lớn về văn hóa và chủ quyền của các quốc gia trong lục địa nầy.

Đó có lẽ sẽ là một trong những cuộc phá sản chủng tộc đáng nhớ nhất trong lịch sử nhân loại. Đáng nhớ, cho đến một ngày nào đó khi không còn ai quan tâm để nhớ đến nó nữa.

Đôi giòng:
Bài trên chuyên trang Học Viện Báo Chí trên BBC tiếng Việt. Nhắc đến GCHQ của Anh khiến ta liên tưởng đến trường hợp nhân vật Phạm Xuân Ẩn. Đường ranh giữa những người làm báo và làm tình báo thật mỏng manh lắm!

Các đơn vị an ninh, tình báo của Anh: GCHQ, MI5, MI6

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 528 other followers