Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Lời cám ơn

Hân hạnh chào đón bạn đọc,

Chân thành cám ơn các tác giả đã cho phép chúng tôi sử dụng bài viết, thơ, truyện, nhạc, tranh vẽ, ảnh chụp,…trên Blog này;

Chân thành cám ơn trước những tác giả mà chúng tôi chưa liên lạc, nhưng đã mạn phép* quý vị đưa bài, hình ảnh, tranh vẽ, ảnh chụp,…giới thiệu đến bạn đọc;

Mến chúc quý vị và quý bạn sức khoẻ, bình an,

Trân trọng,

Riverwood Arts Center 03a (Small)

Sầu Đông  Nguyễn Thọ Chấn

* Trong trường hợp quý vị có những điều cần lưu ý, xin vui lòng cho biết qua điện thư. Chân thành cảm ơn quý vị.

Những nguyên nhân tạo ra mọi tệ nạn trong xã hội Việt Nam như hiện nay

Nguyễn Dư (Danlambao) – Trong vòng khoảng một tháng trời mà ba vụ giết người làm chấn động trong toàn xã hội Việt Nam: một, là do mâu thuẫn trong cuộc sống nên hung thủ ra tay cướp của và giết một loạt sáu mạng người trong cùng gia đình để trả thù. Còn hai vụ kia: gia đình gồm bốn người, và một gia đình khác cũng bốn người bị giết chỉ vì tranh chấp, thù vặt, nhỏ nhen. Ba vụ án kể trên, thật ra nếu sống trong một xã hội có dân trí bình thường thì không thể có vì nó không đáng để cho các hung thủ còn rất tỉnh táo ra tay, làm những chuyện động trời như thế. Khó ai có thể tưởng nổi, thực tế ở trong xã hội Việt Nam hiện nay mà chúng ta cứ ngỡ như đang đọc trong truyện kiếm hiệp giả tưởng, giết người hàng loạt như trở bàn tay của tác giả Kim Dung. Mỗi ngày đọc báo, còn nhiều vụ việc, nhiều vụ giết người vì những chuyện lãng nhách, không thể kể hết!

Người ta cho rằng do giáo dục và quản lý của gia đình, của nhà trường; nguyên nhân của những đứa trẻ ham chơi game bạo lực, cờ bạc, cá độ, đi hoang, lêu lổng; do tệ nạn xì ke ma túy; do lười lao động… Tất cả những đổ lỗi đó đều không sai!
Nhưng nguyên nhân nào đưa đến tình trạng xã hội như thế? Nhiều người đã phân tích. Mỗi người đưa ra một vài cách nhìn theo quan điểm của riêng mình, nhưng chưa đủ, chưa phải là nguyên nhân chính để kết luận. Đó mới chỉ là những nét chấm phá trên một bức tranh.
Tại sao người ta không tự hỏi: nguyên nhân nào bao quát hơn, rộng lớn hơn cách nhìn hẹp hòi như thế? Nguyên nhân nào bắt nguồn trên tất cả mọi nguyên nhân như đại khái vừa nêu?
Dạ xin thưa: Do hệ thống độc đảng, độc tài lãnh đạo, và cái dàn lãnh đạo cấp cao của đất nước Việt Nam từ đời này qua đời khác, rồi cho đến hiện nay đều quá tồi; cộng với cái bản chất người Việt hiền lành, an phận trở nên mụ mị, bị chế độ lừa là người dân nhờ ơn đảng giải phóng khỏi ách nộ lệ thực dân. Ngày xưa họ có công, thì ngày nay được đền ơn đáp nghĩa là hợp lý! Thế cho nên người dân không đấu tranh để chọn lựa cho mình đường lối nào khác hơn ngoài sự chấp nhận sống như một đàn cừu dưới một hệ thống chăn dắt của những con người tồi tệ, thao túng quốc gia đó.
Chính vì lãnh đạo tồi nên để thất thoát của quốc gia nhiều tỉ Mỹ kim mà vẫn được đồng bọn (cũng tồi) “tín nhiệm cao (!?)” -một số tiền mà mọi người có thể nhìn thấy; còn những thứ không thể kiểm chứng đã mờ ám lọt vào túi cán bộ, các quan tham có chức có quyền thì không thể tính nổi. Người ta chỉ biết và chỉ nhìn được qua nhiều hiện tượng trong cuộc sống của nhiều cán bộ đảng viên mà thôi.
Xã hội quá bất công! Vật chất hào nhoáng của những kẻ có tiền tạo ra lòng tham làm cho những tầng lớp cùng đinh lóa mắt: Những xe sang bóng lộn, điện thoại đời mới, nhà cửa ăn ở tiện nghi, đủ các loại giải trí hạng sang quyến rủ khắp nơi (có nhiều khi ở các nước văn minh còn không có những loại giải trí độc đáo đó) nhan nhản xảy ra trước mắt, phục vụ các “quan” không thiếu trên đời, chỉ có điều là những thành phần nghèo thiếu tiền là không được hưởng mà thôi. Một bà có con bị tuyên án tử hình vì chặt lìa bàn tay nạn nhân để cướp điện thoại, không nhận án do con mình mà còn đi đổ tội nạn nhân: Ai biểu có của mà đi khoe!
Nếu trong một xã hội người dân được hưởng sự công bằng, mọi gia đình có nếp sống tương đối ổn định gần ngang nhau, không phải “giật gấu vá vai”; không có cái cảnh những kẻ trọc phú ăn chơi trác táng, vô độ; không có cái cảnh nhà hàng, vũ trường, những món ăn sang trọng hoành tráng, tốn kém lôi cuốn, mời gọi khó có thể kềm lòng làm chủ được bản thân, thì người ta vẫn còn có thể giữ được lễ nghĩa, hơn là làm mất đi danh dự, nhân phẩm, hoặc phạm tội ác một cách tàn bạo để phải bị trừng phạt nặng nề.
Có thể nhiều cán bộ cao cấp đã biết rõ về tệ nạn xã hội hiện nay, nhưng vì quá ngu dốt, u mê không có tầm nhìn xa, trông rộng nên cách điều hành quốc gia của họ chỉ mang tính vá víu, tạm thời bằng cách cho học tập người này, nêu gương người nọ; lấy hình tượng ông Hồ và những biểu dương, khen thưởng, đề bạt cá nhân trong những phong trào, vô tình tạo ra sự ganh đua vô bổ, vô trách nhiệm; tranh giành, chạy đua, phấn đấu theo cái danh ảo tốn kém và giả dối. 
Những tội phạm thì có nhà tù “quản giáo” gọi là học tập cải tạo. Nhưng khi muốn cải tạo một con người, nó phải đi kèm với nhận thức về thực tế, thực trạng trong xã hội hiện nay. Không thể khuyên người khác sống đạo đức khi chính mình (đảng viên) và xã hội không lành mạnh, không đạo đức. Nói và làm, học tập không đi đội với thực tế thì chỉ là nói suông để ru ngủ, lừa gạt, làm cho người ta không còn tin tưởng vào chế độ để thay đổi nhận thức. Bắt, “cải tạo tốt” rồi lại thả ra, không có cuộc sống ổn định mà lại còn nhìn thấy những cái hào nhoáng choáng ngợp trong cuộc sống xung quanh, không kềm lòng nổi thì làm sao khỏi phạm tội tiếp; rồi lại vào tù thì chẳng khác nào như bắt cóc bỏ dĩa. Trấn áp chưa phải là biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa tội phạm.
Chính quyền không thể thay đổi nhận thức con người bằng cách là bắt người ta nhìn xã hội viễn vông theo quan điểm của riêng mình, phấn đấu theo ý đảng! Chúng ta thấy hàng trăm ngàn quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa toàn là những người trí thức, cộng sản cải tạo được gì từ họ, hay chỉ tạo ra và chuốc lấy sự căm thù, khinh bỉ thêm về chế độ cộng sản mà thôi.
Hàng vài trăm tù nhân bất đồng chính kiến hiện nay, nhiều người bị bắt nhốt nhiều năm liền, khi thả ra, chính quyền có trói buộc tư tưởng, có khuất phục họ được không? Còn những trường hợp công an đánh lén, đánh hội đồng ngoài đường để dằn mặt theo kiểu xã hội đen; tạt cứt đái thối tha vào nhà những người bất đồng chính kiến để dằn mặt, những việc làm đó chỉ để trên cả thế giới người Việt có lương tâm, người ta nhìn vào khinh bỉ, họ cho là một tập đoàn lãnh đạo quốc gia ti tiện, nhỏ nhen, tồi bại. Ai chỉ đạo trong những hành động ti tiện, nhỏ nhen, tồi bại đó? Đảng! Ai lãnh đạo đảng? Ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Lú lẫn, khù khờ, nhu nhược cỡ ông này thì làm sao chỉnh đốn đảng của ông để lành mạnh hóa hàng ngũ.
Những ông bà có chức, có quyền, có trách nhiệm với đảng của họ thì phải biết nhục cho những đảng viên dưới quyền, hành xứ với dân mất nhân tính; đàng này chuyện trấn áp ti tiện xảy ra liên tục từ năm này tới năm khác không giảm, “Đảng cộng sản hãy đi chết đi” như lời của bé Phương Uyên chửi rủa là chính xác.
Điều cần thiết hiện nay là phải có dân chủ thì xã hội mới có công bằng rồi mới đi đến văn minh. Nếu có dân trí, có công bằng, có dân chủ thì không có cảnh giết người hàng loạt rất man rợ như những con người còn sống trong thời kỳ hoang dã.
Dân chủ bắt nguồn từ tự do ngôn luận để răn đe, giáo dục tất cả mọi thành phần trong xã hội, không chừa một ai; tạo ra cho mọi người nhận thức đúng, sai thì mới có hành động hợp lý mà sửa mình. “Đánh nhau” bằng ngôn từ, bằng văn chương ẩn ý, bóng bẩy; chứ không bằng cứt đái, dùi cui, nhà tù, lấy côn đồ ra để dằn mặt, và cũng không có cái cảnh nói chuyện phải quấy với nhau bằng tay chân hay bằng dao búa. Luật pháp phải nghiêm minh với bất cứ những ai, những hạng người dùng bạo lực.
Không ai đi đòi dân chủ bằng bạo lực. Chỉ có cộng sản mới phát động, lôi cuốn, kích động chém giết lẫn nhau để đòi dân chủ, nhân quyền theo kiểu của cộng sản.
Có người còn bảo do dân trí thấp nên chưa thể có dân chủ. Đây là một câu nói đầy ngang ngược, ngụy biện để hưởng lợi lộc một cách ngu xuẩn. Không có dân chủ thì làm sao có dân trí?! Định hướng tư tưởng, định hướng sự suy nghĩ thì làm sao có dân chủ để trở thành dân trí cao! Hay nói trắng ra: hễ độc tài quản lý tư tưởng thì không bao giờ có dân trí. Không có dân trí thì giữa con người đối xử với con người man rợ như sống trong thời kỳ hoang dã là chuyện đương nhiên.
26/8/2015
Bài không thể không đọc của Nguyễn Hưng Quốc về một ‘đặc điểm rất xấu’ của xã hội Việt Nam hiện nay.  Dân lành làm sao có thể sống yên ổn trong bầu khí xã hội bạo động và bất an nặng nề như thế?!
Thứ ba, 25/08/2015

Tại sao họ lại hung ác đến vậy?

Tất cả các giá trị thiêng liêng, các chuẩn mực trong quan hệ giữa người và người đều bị phá sản. Mọi người ào ạt chạy theo lợi nhuận và những quyền lợi cá nhân. Người ta đâm ra vô cảm trước những nỗi đau khổ của người khác. Người ta có khuynh hướng sử dụng bạo lực để giải quyết mọi tranh chấp. Ở trường học, chỉ cần một chút xích mích, học sinh, kể cả học sinh nữ, ẩu đả và hành hạ nhau trước cái nhìn dửng dưng của các học sinh khác. Ngoài đường, chỉ cần đụng quẹt xe một chút xíu, người ta chửi bới, hơn nữa, đánh đá nhau. Trong xã hội, bạo lực được xem là cách chính để giải quyết mâu thuẫn.

Luật pháp Việt Nam khắc nghiệt nhưng không nghiêm minh. Khắc nghiệt ở chỗ Việt Nam vẫn còn duy trì án tử hình và trên thực tế, rất nhiều người bị án tử hình vì tội giết người, nhưng không nghiêm minh vì có rất nhiều người phạm tội, dưới nhiều hình thức và với nhiều mức độ khác nhau, vẫn vô can, thậm chí, sống ung dung và thanh thản ngoài đời.

Phỏng vấn của BBC tiếng Việt với Ts Lê Đăng Doanh:

‘VN cần Đổi Mới 2 và cải cách thể chế’

Trao đổi với BBC tại Berlin, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, nêu quan điểm:

“Việt Nam hiện nay đang đứng trước một yêu cầu rất cơ bản và cấp bách là đổi mới lần thứ hai, mà trong đó trọng tâm là cải cách thể chế.

“Một là Việt Nam đang hội nhập rất sâu và thể chế của Việt Nam có nhiều điểm chưa tương thích với thể chế mà Việt Nam đang hội nhập.

“Điều thứ hai cũng quan trọng là với thể chế hiện nay của Việt Nam, thì xếp hạng của Việt Nam về ‘môi trường kinh doanh’ của Ngân hàng Thế giới về ‘năng lực cạnh tranh’ của Diễn đàn Kinh tế thế giới và về ‘chỉ số cảm nhận tham nhũng’ của Tổ chức Minh bạch Quốc tế đều rất thấp và chậm có cải tiến.”

Tin trang lề dân: Giang Trạch Dân và hai con trai bị bắt vì âm mưu ám sát Tập Cận Bình

Theo nguồn tin dân mạng TQ thì vụ nổ ở Thiên Tân là nổ kho đạn chứ không phải kho hóa chất như báo chí TQ đã đưa tin.
Phe phái của Giang Trạch Dân dự trù sẽ nỗi loạn và bắt giam Tập Cận Bình tại Thượng Hải, tuy nhiên mưu kế không thành, do đó Giang Trạch Dân đã ra lệnh cho nổ kho thuốc súng tại Thiên Tân để xóa bỏ dấu vết.
Ngay sau khi vụ nổ ở Thiên Tân thì Công An TQ đã bao vây Khách Sạn Xijiao Guesthouse ở Thượng Hải để bắt sống Giang Trạch Dân.
Theo nguồn tin từ dân địa phương thì Giang Trạch Dân đã đái và ỉa ra quần.
Hiện nay Tập Cận Bình đã bắt giam Giang Trạch Dân cùng 2 con trai tại một nơi bí mật.
Tấm hình Giang Trạch Dân bị bắt đã bị Bắc Kinh ra lệnh lấy xuống khỏi trang Xã Hội Weibo, tuy nhiên vẫn còn lưu ở nhiều diễn đàn tiếng Hoa dưới đây:

(1) https://www-cnnews.rhcloud.com/
(2) http://www.acewings.com/cobrachen/forum/topic.asp…
(3) http://www.bbsdigest.com/thread/index?bid=7&tid=33355187
(4) http://www.theepochtimes.com/…/1726671-former-chinese-part…/
________________________________________

Quý bạn đọc tiếng Anh có thể vào xem tại đây: 

Former Chinese Party Chief Jiang Zemin Placed ‘Under Control’

By , Epoch Times | August 20, 2015

Ông Nhất mở lại ‘Góc nhìn khác’

Blogger Trương Duy Nhất, người bị kết án hai năm tù vì các bài viết, tuyên bố mở lại blog ‘Một Góc Nhìn Khác’.

Ông Nhất viết trên Facebook: “Hôm nay 24/8/2015, Một Góc Nhìn Khác trở lại với bạn đọc sau 820 ngày, kể từ biến cố 26/5/2013.

“Vĩnh biệt .vn! Một Góc Nhìn Khác từ đây vĩnh biệt tên miền .vn, trở lại với tên miền quốc tế .org: http://truongduynhat.org.”

Blogger mới ra tù ít lâu cũng nói ông đăng lại hơn 1.000 bài viết cũ trừ 12 bài bị coi là “chứng cứ phạm tội” và liệt kê toàn bộ những bài này trong đó có “Trong đảng ngoài đảng”, “Chấm điểm Thủ tướng”, “Chấm điểm bộ tứ nguyên thủ” và “Tổng Bí thư và Thủ tướng nên ra đi”.

Ông nói các độc giả vẫn có thể tìm đọc những bài viết này qua Google hoặc xem cuộc nói chuyện của BBC Tiếng Việt hôm 24/08 với ông Trương Duy Nhất trên YouTube tại đây.

Nguồn: BBC tiếng Việt

Thương Người Độ Lượng

Đôi giòng:
Cuộc chiến Việt Nam, dù cả thế kỷ sau nữa, sẽ vẫn còn in đậm dấu ấn trong tâm tưởng người Việt, nhất là những người có người thân sống ở Miền Nam trước 30/04/1975 (VNCH), từng chịu những hậu quả của phiá những kẻ thua trận.  Bài viết của Vĩnh Chánh là bài viết có hậu. SĐ-NTC mạn phép tác giả tu chỉnh một số tiếng ( và cả dấu) trong bài.

Thương Người Độ Lượng

Tác giả: Vĩnh Chánh

Tác giả là một y sĩ thuộc hội Ái Hữu Y Khoa Huế Hải Ngoại, hiện là cư dân Mission Viejo, CA. Tốt nghiệp Y Khoa Huế năm 1973, thời chiến tranh, ông là Y Sĩ Trưởng binh chủng Nhảy Dù cấp tiểu đoàn và gắn bó với đơn vị chiến đấu cho tới giờ phút cuối tại vành đai Sàigon ngày 30 tháng Tư. Với bài “Không Bỏ anh em, không bỏ bạn bè” ông viết Tháng Tư 2013, Bác sĩ Vĩnh Chánh đã nhận giải danh dự Viết về nước Mỹ cùng năm. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.

* * *

Thủa trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Viết tặng các phụ nữ sống trong thử thách và nghịch cảnh

Khi gia đình chúng tôi dời chuyển đến xóm, Anh đang học Đệ Ngũ cùng một lứa với người anh thứ hai của tôi. Sau hiệp Định Genève, di cư từ Thanh Hóa vào, chỉ có cha và Anh, rất đơn chiếc.

Cùng với các đứa trẻ trong xóm, chúng tôi hay chạy theo chơi với Anh, để được nghe Anh kể chuyện ngoài nớ. Anh cũng thường đến nhà tôi chơi với anh trai và 2 chị của tôi. Đó là một người rất dễ mến, hiền hòa và đơn sơ. Lúc cha Anh tục huyền và có một bé gái, Anh tình nguyện vào Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt sau khi đậu Tú Tài. Vài năm sau cha Anh dọn nhà khỏi xóm.

Bẳng đi gần cả mươi năm, bất ngờ tôi gặp lại Anh trong bộ áo quần màu Olive Bộ Binh với cấp bực Đại Uý khi Anh về dự đám tang của cha mình năm 1972. Vẫn một vẽ trầm lặng, dáng người cao ốm. Vẫn một cách ăn nói từ tốn nhỏ nhẹ nhưng thân tình. Anh hiện đang phục vụ cho một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân và vừa lấy vợ vài tháng trước. Đám cưới rất đơn giản vì cha Anh già yếu không tham dự, nên Quân Đội đại diện nhà trai đi cưới vợ cho Anh. Bố vợ của Anh là một Thượng Sĩ già của Tiểu Đoàn, người thân thuộc với Anh từ bao năm qua. Tôi mừng Anh, khi Anh rút ví cho xem tấm hình người vợ xinh đẹp, một nữ sinh Trung Học.

20 năm sau, tình cờ gặp lại Anh tại California ở nhà một người bạn hàng xóm chung với nhau trước đây, chúng tôi mừng rỡ chào hỏi nhau trên đất Mỹ. Anh đã thay đổi nhiều và đi một mình. Khó nhận biết được nếu không được giới thiệu trước. Hình ảnh hiên ngang và oai vệ của một chiến sĩ năm nào tôi hằng ngưỡng mộ không còn nữa. Anh già hẳn đi, nét mặt cằn cỗi, chín mùi với khổ đau, ánh mắt mệt nhọc. Lưng hơi còng và đôi vai co rút. Bước đi với những bước chân như ngần ngừng, khập khiễng. Anh và gia đình, 1 vợ 4 con được qua Mỹ theo diện HO trên một năm nay. Tôi mừng Anh đến bến bờ tự do. Sau đó Anh kéo tôi ra sân, trầm ngâm tâm sự. Đọc tiếp »

Bút ký – Cổ tích ở ‘xóm đĩ’ dốc dù

Ông Năm Tốt bên một con đập dẫn nước từ Sình Bà Bão về. Ảnh: VIỄN SỰ  

Gọi là xóm, kỳ thực đó là những căn chòi lá buông nằm ven quốc lộ, giữa vạt rừng thưa. Phía tây giáp núi và đường xe lửa, phía đông giáp biển. Cả xóm nhìn mặt ra đường để mưu sinh. Con nít bán san hô, thanh niên đào cây cảnh, lên rừng đốt than và hái phong lan còn đàn bà bán dâm cho cánh xe tải dường dài. Cái tên Dốc Dù có từ thời chiến tranh. Sau này, “dù” lại là từ dùng để chỉ lượt đi khách của chị em. Cái tên, vì vậy khi nào cũng đúng nghĩa. Ban đầu là vài người đàn bà từ các vùng kinh tế mới bỏ về đây vì nghèo cực, những gia đình từ Mỹ Tường (Ninh Thuận) vào làm rừng, đi biển thuê. Có người chồng chết trong chiến tranh, hoặc chết sốt rét, hoặc vượt biên trong những ngày hỗn loạn, hoặc nghèo quá nên bỏ con cho vợ rồi đi biệt. Không nghề, không tiền nhưng phải nuôi con, những người đàn bà ấy dựng tạm mái chòi, sắp ra một cái bàn nhỏ bán kẹo, bán nước, đêm về thêm mấy chai bia và hột vịt lộn. Những ánh đèn dầu leo lét và bóng người đàn bà mệt mỏi ngồi bên đường đã trở thành hình ảnh quen thuộc của khách dọc đường thiên lý. Thỉnh thoảng có chiếc xe tải ghé lại chở than hoặc dừng cho tài xế chợp mắt, cũng có khi bác tài làm chai bia hay xị rượu với cái hột vịt. Thoạt đầu chỉ ghé nghỉ ngơi, giăng võng dưới gầm xe, có người thấy tụi nhóc nhỏ tội nghiệp cho khi thì hộp bánh, khi ít gạo, ít tiền. Có nhiều người trong số họ tưởng khô héo theo từng ngọn gió thổi bốn mùa ấy có ngày chợt mềm lòng trước những khách phong trần, những khao khát rất đàn bà trỗi dậy. Những khát khao như than nóng ủ trong đám tro tàn ấy cháy bùng khi gặp gió. Cũng có thể chỉ vì họ muốn có điều gì đó khuấy động cuộc sống vốn quá nghèo khó, nhọc nhằn và đơn điệu. Vì thế sau một đêm vui cho đời bớt nhàm chán, có những đứa trẻ ra đời mà không có cha. Những người đàn bà xóm Dốc Dù cũng không vì vậy mà hờn oán. Vợ chồng còn bỏ được, đây có thề non hẹn biển gì đâu… Họ lại lầm lũi nuôi con và mỗi ngày đêm hướng ra phía mặt đường… Rồi cái nghèo và sự bế tắc khiến nhiều người trong số họ tặc lưỡi, thành nghề. Từ vài ba căn lều lá, nó thành xóm. Xe tải ghé tấp nập hơn và những đứa trẻ không cha ra đời ngày một nhiều hơn như những hạt cỏ gió thổi đi gieo nơi này nơi kia. Có nhà ba bốn đứa lít nhít sàn tuổi nhau, không đứa nào có chung cha với đứa nào, như một bầy gà con bên cánh mẹ xơ xác. Cư dân Dốc Dù bình đẳng, những người đàn bà xóm Dốc Dù cũng không mặc cảm với chung quanh, vì nhiều người khác cũng như mình. Họ bình đẳng bởi cái nghèo, ở xứ không điện, không nước, không nghề, không đất. Và tụi trẻ con thêm một lần bình đẳng là sự thất học và nhiều đứa không có cha. Khi có xe tải ghé đến, tụi nhóc ra khỏi nhà và cái rèm cửa làm bằng vải hồng vải xanh kéo xuống. Cái chòi nóng hầm hập với những mảnh trải cáu bẩn, tiếng thở bản năng hòa cùng tiếng gió biển dộng vào vách núi đã tạo thành thứ âm thanh của cuộc sống lầm lụi và cam chịu. Xóm nhiều chị em làm gái, nhưng không có đánh chửi giành khách, không có ma cô. Mà cũng không đứa nào dám đến đây đòi bảo kê những người đàn bà thừa cay cực nhọc nhằn lẫn khả năng tự vệ. Cuộc tình đổi chác ở đây giá chỉ bằng phần tư ở Phan Rang hay Phan Thiết, đáng gì đâu mà bảo kê. Rồi những đứa trẻ lớn lên và những người đàn bà già đi. Vẫn không nhà không đất, vẫn căn chòi bên quốc lộ chạy qua rừng thưa và động cát. Những đứa trẻ lặn xuống biển mò san hô bán cho khách qua đường hay lên núi đốt than. Rừng núi đã cằn càng trở nên trọc, người vẫn loanh quanh bế tắc. Có những người đàn bà Dốc Dù một ngày nọ cay đắng khi đứa con gái vừa mới lớn ngồi bán hột vịt lộn thay mẹ, đêm nọ tắt đèn và lẩn vào vạt rừng sau nhà với một anh tài xế xe tảii. Khóc lóc, mắng mỏ rồi uất hận cuộc đời nhưng sau đó thì bất lực: Má đẻ tui ra má có nuôi được tui hông? Má tốt lành gì hơn tui mà đánh chửi tui! Rồi lại thêm những đứa trẻ như hạt cỏ hoang ra đời. Những thằng trai lớn lên cũng bế tắc rượu chè sau ngày lên rừng, lặn biển. Những chiếc xe chạy ngoài quốc lộ mỗi ngày một sang trọng, hiện đại. Còn những số phận ở Dốc Dù thì đứng yên, cùn đi, héo đi, lem luốc than, cát lẫn bụi đời. Biển vẫn sóng và trời vẫn gió, người vẫn nghèo héo đi như mẹ chúng…. *** Cho đến một ngày của hai mươi năm trước, đầu hè 1995, cuối dốc Dù, gần Bực Lở có một căn chòi mọc lên bên mép biển. Dải đất cằn được vỡ ra. Vợ chồng bà Năm, hai ông bà già hưu trí ở Phan Rang vào đây dựng lên một mái quán nhỏ bán mấy thứ lặt vặt cho khách qua đường, ủ lá cây làm mùn, thuê xe chở phân bò về trộn đất và xây một bể nước to bằng xi măng. Mỗi ngày, sáng và chiều họtỉ mẫn trồng những cây dương và chăm tưới. Giữa vùng đất cằn ven biển mấy tháng sau mọc lên một khoảnh rừng dương liễu chắn gió cho căn chòi. Rừng dương vừa cao, bà cất một quán cơm ngay khúc quanh bờ biển. Từ ngày có quán bà, khách du lịch ghé đến. Biển ở đây đẹp tuyệt vời nhưng xưa giờ hông có chỗ trú chân nên khách chỉ dừng chụp ảnh rồi đi. Quán bà Năm nhanh chóng trở thành nơi dừng chân của khách đường xa và dân phượt. Quán vừa ổn định thì Bà Năm đi đến xóm Dốc Dù, ghé đến từng nhà, hỏi thăm rồi nói với mẹ bọn nhóc: bây coi cho tụi nhỏ đi học chớ để dốt tội nghiệp. Chị em phân bua trường xa quá, mà nhà nghèo không có tiền đóng, cũng thương tụi nhỏ mà không biết phải làm sao. Bà nói thôi để tao tính. Nếu khó quá thì nói tụi nhỏ qua tao, tao dạy cho biết chữ. Bà đi mua tập vở, bảng đen và sách rồi về gom được đâu chục đứa con nít, dạy chữ cho chúng. Nhưng bà thầm lo: Tuổi cao rồi, không chừng một ngày dạy hai ngày đau ốm thì lại để tụi nó bơ vơ. Cuối tuần đó bà Năm đi Phan Rang, khi quay về, đi theo bà là một cô gái trẻ. Bà nói với tụi nhóc: Đây là cô giáo Oanh, từ nay cô sẽ dạy tụi con! Oanh trẻ măng, học xong Cao đẳng sư phạm xin mãi chưa có việc làm. Bà Năm nói không chê thì về làm cho bà, bà trả lương ngang lương nhà nước, bao ăn ở sinh hoạt và đóng cả bảo hiểm xã hội cho con, coi như chỗ lương dành làm vốn. Hông phải phụ quán cơm đâu, nghề của con là cô giáo thì vô làm cho bà cũng là làm cô giáo. Tỉ tê một hồi, Oanh đồng ý về Bực Lở ngày ngày chăm nom tụi nhỏ. Có cô giáo, tụi trẻ ngoan hẳn và càng ham học. Chị Bảy, một người có con từ những cuộc tình bên ngọn đèn bán vịt lộn, kể: “Nhỏ lớn tui chỉ nghe hai đứa nhỏ chửi thề. Cái bữa nó ở nhà bà bà ngoại Năm về, nó vòng tay thưa má con đi học về, tui khóc nguyên ngày đó chú! Nó học dược mấy hột chữ biết thương mẹ hơn. Thiệt tui sanh nó ra nhưng không dưỡng được nó nên người. Ơn bà ngoại Năm kể không hết!” Quán ổn định, ông bà già lụi hụi tìm mua đất nuôi tôm, trúng mấy vụ liền. Lớp học ê a tiếng trẻ, lũ nhóc ngoan và quấn quýt ông bà ngoại Năm. Tuổi già, nghĩ vậy là đã đến lúc cần an nhàn. Nhưng rồi tụi nhỏ học hết lớp một, những đứa khác lại xin vào, trong khi đám nhóc bà Năm dạy ngày nào đã lên lớp ba, lớp bốn. Bà Năm lụi cụi đi gặp lãnh đạo xã xin đất dựng trường. Xã nói đất công với đất quốc phòng, hông xây dựng kiên cố được. Bà nói đất để không cho cây bụi mọc hoang, xây cái trường học cho con nít thì ảnh hưởng gì đến quốc phòng. Xã nói khó lắm má Năm, nhưng má đi với tụi con lên huyện. Huyện mừng còn hơn gì, xưa nay Dốc Dù không có trường, nổi danh Nam Bắc chỉ mỗi đặc sản đi “dù” giá mạt hạng, tụi nhóc để không ai dạy dỗ sẽ hư. Huyện cấp đất bên mép biển, gần quán của của bà. Một phòng học mới ra đởi. Sáng lớp học chia đôi cho lớp một và lớp hai, chiều dạy lớp bốn. Nhưng lớp ngày càng đông, có mấy đứa nhỏ nói muốn đi học nhưng nhà con ở đầu dốc, nhà bà Năm cuối dốc, cách xa bảy tám cây số sao đi nổi? Ờ chuyện đó xưa giờ chưa nghĩ ra. Bà Năm đi gặp các chủ xe đò chạy tuyến Phan Rang- Phan Rí. Ai cũng biết bà chủ quán hiền lành tốt bụng nên tất cả gật đầu cái rụp khi bà nói cho tụi nhỏ đi nhờ xe. Bà may cho mỗi đứa hai bộ đồng phục có dấu hiệu riêng, xe chạy ngang thấy tụi nhóc ngoắt tay là dừng lại. Xe chật cỡ nào, tụi nhỏ cũng có một chỗ ngồi. Dân Vĩnh Hảo, Vĩnh Tân xuýt xoa: học miễn phí mà đi học được ngồi ô tô thì chỉ có mấy đứa học trò trường bà ngoại Năm. Rồi Oanh nghỉ dạy vì hoàn cảnh riêng, bà Năm lại đi kiếm thầy. Bà thuê được một cậu thanh niên người Chăm vừa đỗ tú tài về dạy cho tụi nhỏ. Rồi bà lên huyện: mấy con giúp cô, tụi nhỏ sắp hết cấp một rồi, giờ hông lẽ để nó dốt, tụi nó còn muốn học nữa. Huyện nói cô Năm yên tâm, tụi con sẽ nói Phòng Giáo dục. Thế là huyện nói với phòng: mấy đứa nhỏ Dốc Dù rõ là không nằm trong chỉ tiêu nào, nhưng sự nghiệp giáo dục là của chung, cô Năm gánh thay phần mình chuyện khó nhất là đưa tụi nhỏ đến trường, bỏ tiền trả lương, xây trường, may đồ và mua sách cho tụi nó. Giờ còn thiếu thủ tục gì thì các anh lo cho tụi nhỏ. Phòng giáo dục cử người về ra đề thi, tụi con nít học trường bà ngoại Năm đều lên lớp. Lứa học trò đầu tiên vào cấp hai, với xóm Dốc Dù là một giấc mơ vĩ đại thành hiện thực. Chị Trang, chị Hồng, Chị Dung, Chị Gái, anh Ba hầm than, anh Năm mò ốc biển đã từng nhiều đêm nuốt nước mắt vào trong vì sợ cái dốt đeo đẳng con mình, nay ai nấy đều khóc khi ngày đầu tiên nhìn tụi nhỏ xúng xính đồng phục đến trường. Ngày tụi nhỏ vào lớp 6, bà ngoại Năm cho sách, tập, đóng học phí, cho gạo và còn cho cả tiền. Nói cho ngay, mấy tháng hè sợ chúng nó lêu lổng sinh hư, bà bắt đến trường ôn bài, cho ăn cơm, rồi phụ bà sắp dọn chén bát và trả lương đàng hoàng, tới cuối hè đem tiền tới cho cha mẹ nó. Cũng hông phải là vừa trả công vừa cho, bà yêu thương nhưng kỷ luật, đứa nào cũng phải siêng năng lễ phép. Nhận đồng tiền do con mình làm ra bằng những ngày hè vừa học vừa làm, những bà mẹ đơn thân xóm Dốc Dù thêm lần nữa khóc. *** Có vốn, vợ chồng bà Năm lại lo chuyện khác: Dân đây xưa giờ không có nước, đã nghèo mà tiền mua nước mỗi ngày gần bằng tiền đong gạo. Ông Năm vắt óc nghĩ: đất đây không có mạch ngầm, chỗ có thì trên là đá sỏi, dưới là nước mặn không đào giếng được. Nghĩ mãi ông nói: Mình à, hồi xưa tui đi kháng chiến, căn cứ đóng bên kia núi, cách cỡ mười cây số, chỗ đó có nước. Bộ đội mình phát hiện ra trên núi ở độ cao 500 mét có một cái hồ nước thiên nhiên cả ngàn khối gọi là Sình Bà Bão. Tui sẽ đưa nước về. Nói chuyện này ra, dân đi rừng ai cũng nói ông già điên hay lẩn thẩn. Để tới Sình Bà Bão, thanh niên luồn rừng cũng mất một ngày rưỡi, ông già có khùng hay không đòi dẫn nước từ rừng về biển? Tuổi bảy mươi, trong 10 năm, ông Năm đã 50 lần luồn rừng tìm đến Sình Bà Bão, ngủ lại và hôm sau tìm đường khác trở về. Cuối cùng 50 lần khảo sát ấy giúp ông mường tượng ra con đường dẫn nước nhờ lợi dụng địa thế và cao độ. Ông Năm nhờ một người bạn kỹ sư thủy lợi giúp mình về kỹ thuật. Họ trải bản đồ, làm sa bàn rồi thiết kế….12 con đập trữ nước thành từng bậc thang băng rừng xuống núi. Con đập lớn nhất dài đến hơn 30 mét, vai đập hình thang rộng 6 mét và cao hơn nóc nhà, cỡ gần 5 mét. Tất cả xây bằng đá. Dẫn được nước về, ở một vùng đất cao gần Vĩnh Hảo – Cà Ná, ông xây một bể chứa dung tích mấy trăm mét khối. Ông bà bỏ ra gần hết gia sản tích cóp cả đời và hàng chục năm bán quán, nuôi tôm, bỏ ra hàng trăm cây vàng để xây bể chứa và mấy chục cây số đường ống dẫn nước đến từng nhà. Mấy trăm hộ dân mừng khôn tả. Giấc mơ của bao nhiêu đời dân ở đây giờ thành hiện thực bởi một ông già. Nếu trước đây ngày ngày họ phải đi nhiều km để chở 40 lít nước bằng đôi thùng bên xe đạp, chỉ đủ để ăn uống còn tắm nhờ nước đọng và nước lợ thì giờ 700 gia đình ở Vĩnh Hảo, Vĩnh Tân (Bình Thuận) và Thương Diêm (Ninh Thuận) có nước ngọt mát lành từ đỉnh núi mà họ chưa từng đặt chân tới, theo đường ống vào tận bếp. Hai năm đầu, các hộ dân được dùng hoàn toàn miễn phí, sau đó thì ông bà tính mấy ngàn một khối nước để bù vào chi phí bảo dưỡng, vận hành đường nước. Câu chuyện kéo dài từ 19 năm trước, năm 1996. Lũ trẻ học bà Năm nay nhiều đứa đã ra đời, có nghề nghiệp, việc làm. Sự thất học ở Dốc Dù đã chấm dứt. Chị em người buôn bán nhỏ, người làm công nhân muối Vĩnh Hảo, cuộc đời đã thôi nhem nhuốc như xưa. Những chị bán vịt lộn ngày nào giờ đã có người thành bà ngoại, bà nội ầu ơ ru cháu. Giấc ngủ đã thôi lam lũ, nhọc nhằn. Hàng trăm đứa trẻ, hàng trăm gia đình đã có một diện mạo khác, không phải chỉ để sống lầm lụi với nhau trong tủi nhọc, mà để vươn ra với cuộc đời. Và bây giờ người ta vẫn gọi Dốc Dù, nhưng trước địa danh ấy đã thôi không còn hai chữ Xóm Đĩ. Chắc dễ đến mấy chục lần tôi ghé quán bà Năm, bất cứ khi nào về quê hay đi công tác ngang qua, rồi ghé lại xóm Dốc Dù mua lan, mua cây kiểng và nghe chuyện. Tôi đã thấy những đứa trẻ Dốc Dù lớn lên, đã thấy những cay đắng trên mặt những người đàn bà Dốc Dù dần phai, dù nét mặt có già theo tuổi tác. Tết rồi về quê, ghé thăm ông già bạn già của bố tôi ở Phan Rang, chú cháu ngồi lai rai, ông kể chuyện ngày xưa hoạn nạn được vợ chồng bà Năm cứu giúp nên thoát khỏi vụ oan khiên. Bởi Bà Năm khi xưa là Phó Chánh án, còn chồng bà là chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy Ninh Thuận. Càng nghe, chắp nối với ký ức 20 năm của dốc Dù, càng thấy đôi vợ chồng già ấy thật…vĩ đại 28 tết , tôi rời quê trở lại Sài Gòn, như mọi khi lại dừng quán bà Năm để ăn sáng. Nó là quán Biển Vĩnh Hảo nhưng tôi thich gọi quán cô Năm. Anh quản lý chạy ra , tôi hỏi cô Năm đang làm gì. Anh nói dạ cô Năm Tốt của con mất hôm kia rồi, sáng nay chôn, quán nghỉ bán. Ông bà Năm Tốt đã sống cuộc đời hơn cả cái tên mình. Nếu ở cuộc đời này có cổ tích, thì sự đổi thay của Dốc Dù chính là cổ tích. Tôi nghĩ thế! Nguồn: FB Hiển Đức Nguyen (vietinfo.eu)

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 527 other followers