Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Lời cám ơn

Hân hạnh chào đón bạn đọc,

Chân thành cám ơn các tác giả đã cho phép chúng tôi sử dụng bài viết, thơ, truyện, nhạc, tranh vẽ, ảnh chụp,…trên Blog này;

Chân thành cám ơn trước những tác giả mà chúng tôi chưa liên lạc, nhưng đã mạn phép* quý vị đưa bài, hình ảnh, tranh vẽ, ảnh chụp,…giới thiệu đến bạn đọc;

Mến chúc quý vị và quý bạn sức khoẻ, bình an,

Trân trọng,

img_0287-5a

Sầu Đông  Nguyễn Thọ Chấn

* Trong trường hợp quý vị có những điều cần lưu ý, xin vui lòng cho biết qua điện thư. Chân thành cảm ơn quý vị.

Bản tin trên vietnamnet.vn ( tháng02 2017)
Ba người Việt bị bắt tại Nhật vì trộm cắp

Từ 2014 đến nay, số người Việt Nam bị bắt tại Nhật vì hành vi trộm cắp tài sản là 740 người.

Gia Bảo

Đôi giòng:
Điều rất kỳ/lạ là đám quan lại mới (nhất là các quan xuất thân từ những vùng quê Bắc bộ) nhiều ông/bà hách xì xằng còn ‘ghê’ hơn cả các quan tây thời thuộc Pháp!

Những ông quan coi trời bằng vung
Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

Trích:

 
Không phải chỉ có ở “nông thôn mới” hay “nông thôn cũ” mới có những quan nhỏ, quan lớn coi dân như rác, coi trời bằng vung, mà ở ngay những thành phố lớn hầu như các quan đều như thế cả. Bây giờ ở VN cũng nhiều bà ra làm quan. Làm thư ký quèn cũng khệnh khạng vẻ nhà quan. Tôi cố tránh những việc phải ra tới “cửa quan” nhưng không được, thí dụ như mỗi tháng phải ra phường lãnh tiền già, mỗi tháng được 380 ngàn đồng VN, cũng ăn được năm tô phở. Cái thân già phải lết ra Ủy Ban Nhân Dân Phường lãnh tiền. Vừa ra đã thấy chừng vài chục ông bà già lưng còng, tóc bạc đứng ngồi lố nhố ngoài hàng hiên, thiếu ghế ngồi nên nhiều cụ phải đứng từ ngoài vào trong phòng làm việc của Ủy Ban. Nhân viên văn phòng này hầu hết là các bà các cô. Có những cô nói nhanh như điện khiến nhiều cụ già miền Nam trố mắt nhìn, đứng lặng thinh, nhấp nhỏm chờ đến lượt gọi tên, không dám hỏi câu nào. Có khi chờ đến hơn hai tiếng mới được lãnh tiền. Có cụ mệt quá để sổ lãnh tiền đó, chiều hay mai mới ra, lại đợi nữa. Lãnh được 380 ngàn ra về là “thoát nợ trần”.

Đây là chuyện nhỏ ở thành phố lớn như Sài Gòn chưa nói đến các nơi xa, còn lắm chuyện “quan làm vua” nữa. Nhìn vào “báo cáo thành tích một năm qua” có rất nhiều “cái tốt”, nhưng “đâu đó vẫn có những biểu hiện xấu”. Lại có đến hàng trăm hàng ngàn “cái xấu cần chấn chỉnh”. Chuyện không lạ với hàng loạt báo cáo tương tự như nhau. Thôi thì tạm bỏ qua những “hồ sơ” khổng lồ đó, xin nói đến chuyện gần đây nhất xảy ra từ chục năm trước rồi, bây giờ báo nhà nước mới khui ra trong cuối tháng 12 năm 2016 này.

Quý bạn nhấp vào hàng tiêu đề để đọc toàn văn trên Nhật báo Viễn Đông (Cali.)

Không thể lãng quên!

Không thể lãng quên!
Hà Văn Thịnh

Trước hết, phải nói rằng, việc dẹp bỏ hận thù trong quá khứ để làm lại – bắt đầu mở ra những điều tốt đẹp giữa 2 dân tộc, 2 chính quyền sau chiến tranh, luôn là điều nên làm, phải làm…

Tuy nhiên, trong cuộc đời này, không có cái gì không kèm theo điều kiện dẫu mỗi chúng ta có muốn diễn đạt những thăng trầm bằng cách nào đi nữa.

Điều kiện tiên quyết để 2 quốc gia “khép lại quá khứ” làm “tan sương đầu ngõ” rồi sau đó, “vén mây giữa trời” là trả lại sự TOÀN VẸN về LÃNH THỔ, không tiếp tục gieo rắc hận thù; và, phía gây ra chiến tranh phải thực sự hành động để phần nào đó chuộc lại lỗi lầm, đền bù (không bao giờ đủ) cho phía bên kia những mất mát, đớn đau…

Đó là những điều kiện nhất thiết phải có để chúng ta có thể “bước qua” những thù hận sau 2 cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ. Đây cũng là những căn nguyên để lý giải vì sao Dân tộc Việt Nam chưa – KHÔNG THỂ bước qua nỗi đau, KHÔNG ĐƯỢC PHÉP quên đi mối hận, KHÔNG CÓ QUYỀN giả mù, gắng điếc trước cuộc chiến tranh DÃ MAN NHẤT, PHI LÝ NHẤT, HÈN HẠ NHẤT trong lịch sử loài người: Cuộc chiến tranh Xâm lược Việt Nam của Trung Cộng ngày 17 tháng 2 năm 1979.

Thứ nhất, tại sao nói đây là cuộc chiến hèn hạ, bẩn thỉu, nhớp nhơ? Xin trả lời, trong lịch sử loài người, chưa bao giờ có chuyện dối trá, đểu cáng tận cùng như những người cộng sản TQ. Một mặt, họ xoen xoét nói về cái gọi là “tinh thần quốc tế cộng sản”; về cái sự cùng chung “lý tưởng”, chung cái bàn thờ là chủ nghĩa Marx – Lénine nhưng mặt khác, họ đã trả thù “đồng chí” bằng sự dã man, tàn bạo nhất.

Thứ hai, cái gọi là “dạy cho VN một bài học”, thật ra chỉ để che đậy dã tâm có từ lâu: Thực chất, cuộc chiến tranh 1979 chỉ là sự TIẾP TỤC của cuộc chiến tranh xâm lược ngày 19.1.1974 – Trung Cộng xâm chiếm toàn bộ Hoàng Sa của VN.

Thứ ba, VN vừa trải qua cuộc chiến tranh 30 năm (1945-1975), ít nhất 5 triệu người đã chết, thiệt hại về vật chất không thể đong đếm do bị kéo lùi 30 năm so với đà đi lên của nhân loại – y như một người bị lâm bệnh nặng suốt ba thập kỷ; ấy vậy mà, CS TQ vẫn xông vào đánh, giết cho bằng được một người sức tàn, lực kiệt – chứng tỏ sự táng tận lương tâm của một kẻ mà không ngôn ngữ nào có thể diễn đạt nổi.

Thứ tư, sự dã man tột cùng của những kẻ độc ác khôn cùng được thể hiện xuyên suốt cuộc chiến tranh: Giết thường dân bằng gậy, bằng cuốc với lý do “tiết kiệm đạn” nhưng thật ra là để thỏa mãn thú tính thích giết người; khi rút quân còn vứt xác người xuống giếng, để làm cho người Việt không có nước sạch để dùng…, là những hành động chỉ bộc lộ ở những kẻ có tâm địa tiểu nhân hèn hạ.

Thứ năm, về nguyên tắc, giặc Tàu tuyên bố rút hết quân, chấm dứt chiến tranh vào ngày 16.3.1979 nhưng, trên thực tế, cuộc chiến vẫn dai dẳng cho đến tận năm 1989 – mà đỉnh cao của sự tráo trở, tàn bạo là cuộc chiến tranh được tiếp diễn trên biển: Đánh chiếm gần một nửa số đảo quan trọng của VN thuộc quần đảo Trường Sa (trong đó có Gạc Ma) ngày 14.3.1988.

Thứ sáu, cũng là điều quan trọng nhất: Cuộc chiến tranh Trung – Việt bắt đầu từ năm 1974, bùng nổ dữ dội năm 1979, biến thái bằng sự càn rỡ, ngang ngược năm 1988; vẫn ĐANG TIẾP DIỄN bởi, cho đến nay, những phần lãnh thổ của VN bị TQ đánh cướp vẫn đang bị chà đạp dưới gót giày của kẻ xâm lược!

Nói một cách khác: 100 triệu người dân Việt không thể nào cho qua, bước qua thù hận, chừng nào Hoàng Sa, Trường Sa vẫn tiếp tục bị TQ giày xéo.

Gần ba thập kỷ qua – kể từ Hội nghị Thành Đô (ngày 3 và 4 tháng 9.1990), đã có không ít lần lãnh đạo hai nước nói nhiều, nói không hề ngượng ngùng về “tình hữu nghị đặc biệt” về “16 chữ vàng” nhằm khỏa lấp những mưu toan quyền lực… Thế nhưng, không một người dân có lương tri nào không biết Trung Cộng chưa bao giờ – không bao giờ từ bỏ dã tâm thôn tính Việt Nam bằng mọi cách, dưới mọi dạng hình tinh vi, thâm hiểm nhất. Đây là điều không thể chối cãi vì, không một ai có thể chấp nhận một người “bạn” khi kẻ đó cướp đất nhà mình, bức hại vợ con mình, đang lăm le chiếm hết những gì còn lại của mình!

Mỗi người dân Việt nam không được phép quên: Cuộc chiến tranh để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Dân tộc bắt đầu từ ngày 19.12.1946 vẫn đang tiếp diễn bởi vì những vùng đất bị kẻ thù xâm chiếm vẫn chưa thể đòi lại được!

Nhắm mắt, làm ngơ trước thực tại cay đắng đó là có tội với Tổ tiên, tự sỉ nhục chính mình!

Huế, ngày 17 tháng 2 năm 2017
_______________________
Nguồn: Dân Luận

Không thể làm xiếc mãi

Nguyễn Thông
17-2-2017

Trên FB tràn ngập những logo tưởng niệm cuộc chiến biên giới 17-2-2019

Đúng đến hôm nay, 17 tháng 2, vừa tròn 38 năm xảy ra cuộc chiến tranh biên giới phía bắc 1979 (như người ta thường gọi thế). Nói một cách chính xác, đó là cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc, đồng thời là cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc của Việt Nam. Dù nhìn nhận dưới góc độ nào cũng vẫn chỉ là thực chất ấy.

Vài ngày nay, trên nhiều kênh thông tin, nhất là mạng xã hội, đặc biệt Facebook, đã sôi sùng sục tinh thần “hướng về ngày 17.2”. Nếu trước đó vài hôm, đám người trẻ tuổi còn mê cuồng với lễ Tình yêu, Valentine Day 14.2, thì chỉ 3 hôm sau, không chỉ bọn trẻ, mà đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi nhắc nhau ôn kỷ niệm, nhớ đến ngày 17.2. Họ còn chứng minh họ không phải là thứ người hay quên, quay lưng lại lịch sử, chối bỏ quá khứ oanh liệt của tổ tiên, ông bà, cha anh, bằng cách thay hình đại diện thành bông hoa sim tím. Hoa sim, cái màu tím rưng rức ấy, chả biết tự khi nào, thành biểu tượng của các tỉnh biên cương phía bắc. Bông sim nở xòe, được gắn với con số 17.2, như nhắc nhở một chặng, một vệt lịch sử không thể lãng quên.

Với sự thận trọng vốn có của mình, cộng thêm cả sự dè dặt quá mức, tôi không vội vào hùa với không khí náo nức ấy. Mình vội vàng quá, có thể sai. Mà sai thì khó chữa. Tôi ráng chờ đợi, như người con gái chính chuyên bị phụ bạc đang chờ kẻ phụ bạc biết đâu nghĩ lại mà quay về. Coi xem, lắng nghe chính quyền có tổ chức lễ lạt kỷ niệm, thông báo thông biếc gì không. Buổi sáng trôi qua. An ủi, biết đâu kế hoạch là buổi chiều thì sao. Rồi chiều cũng qua đi trong sự ấm ức. Thời tiết cả nước hôm nay đẹp thế cơ mà. Miền Bắc, nhất là thủ đô, trời se lạnh nhưng khô ráo, thật tiện cho những cuộc mít tinh, biểu tình, lễ lạt. Miền Trung và miền Nam tuy hơi nóng, nơi này nơi kia lác đác mấy hạt mưa, nhưng cũng đẹp, cái đẹp về hùa với công tác tổ chức huy động cộng đồng. Nhưng không động tĩnh gì. Thôi thì ráng chờ đến tối, vẫn còn khả năng diễn ra sự kiện vào buổi tối. Ấy là mình cứ tự đánh lừa mình thế thôi, chứ cũng hiểu nó như thế nào rồi.

Một ngày hiện tại, trùng với ngày lịch sử khởi đầu cuộc chiến đấu oanh liệt đầy mất mát hy sinh của 38 năm trước đã trôi đi, trong sự ấm ức của dân chúng, sự lặng lẽ thờ ơ cố ý của chính quyền.

Nói cho vuông, cũng có một số báo chí lục tục đăng bài gợi lại ký ức xưa. Có nhiều cách hiểu. Hoặc có sự chỉ đạo ngầm, thả cho báo chí được “cởi mở” chuyện “nhạy cảm”, hoặc báo chí tự cảm thấy vòng kim cô đã nới chút ít rồi, cứ làm đi, chả ai nỡ bắt tội. Dù gì đi chăng nữa, một cách thông tin không chính thống trên những tờ báo chính thống là chả hay ho gì, vẫn nói lên sự kìm kẹp vô hình của bàn tay sắt với báo chí xứ này. Điều đáng buồn là, ngay cả những điều tốt đẹp, chính đáng, chính nghĩa cũng chỉ được thông tin một cách rụt rè, sợ sệt, nhìn trước nhìn sau, “vừa đéo vừa run”, cái sướng thập thò kín đáo chứ không được trọn vẹn, vỡ òa.

Lâu nay, ở xứ này, dưới chính thể này, những thông tin mà nhân dân mong mỏi, được chờ đợi từ bộ máy cai trị chúng cứ nhạt dần, mất dần đi. Lực lượng cầm quyền đã khôn khéo thủ lợi, cố tìm cách có lợi nhất để không mất lòng kẻ thù (mà họ gọi là bạn), vừa đỡ gây sự phẫn nộ trong dân chúng. Nếu họ nghĩ rằng họ đã thành công thì họ đã lầm to.

Bọn Trung Quốc nham hiểm, thâm như Tàu, thừa hiểu rằng nhà cầm quyền Việt Nam chả tốt đẹp gì với chúng (Tàu). Có bắt tay bắt chân, ôm hôn thắm thiết, có nhũn nhặn chiều lòng đồng chí (như kiểu không dám một lần rầm rộ kỷ niệm cuộc chiến đấu chống Trung Quốc, dù năm chẵn, năm lẻ), thì chẳng qua cũng như con giao long nấp dưới đáy sâu, phủ kín nanh vuốt, câu giờ, chờ cơ hội, tránh bộc lộ, phơi mình đó thôi. Thằng Tàu ngu nhất nó cũng hiểu điều đó. Lừa ai chứ đừng lừa bọn Tàu. Với Tàu, chỉ nên đánh bài ngửa thôi.

Điều dễ thấy nhất, trong lúc người cầm quyền xứ ta mềm mỏng, tế nhị, im thin thít sợ mất lòng “bạn” như vậy (họ cắt nghĩa đó là cách bảo vệ hòa bình, giữ ổn định để phát triển) thì bên Tàu, “bạn” cứ bô bô lên ý nghĩa lịch sử, truyền thống vẻ vang của việc từng “dạy cho Việt Nam một bài học”. Nó láo với ta, ta lễ nghĩa với nó, chả khác gì thằng AQ tự đánh lừa mình.Còn với dân, cách xử sự của nhà cai trị xứ này chỉ càng đào sâu thêm ngăn cách. Cả bộ máy, nhất là cơ quan tuyên giáo của họ vừa làm nhiệm vụ ru ngủ, trấn an người trong hàng ngũ, vừa đe nẹt, dọa dẫm, đánh lừa dân chúng. Không thể hiểu sao họ làm nhiệm vụ cầm cương về tư tưởng mà lại nín thinh được trước sự kiện lịch sử vừa đầy căm hờn, vừa hào hùng oanh liệt, rạng rỡ đất nước như vậy. Vẫn biết “Ở một nước đi dây hơn làm xiếc/Thì kỷ niệm một cuộc chiến tranh tùy thuộc kẻ cầm sào”, nhưng lờ ngày 17.2 một cách cố ý chả khác gì phỉ báng lại cha ông.

Ai dám nói không hào hùng, hiển hách. Chính báo Nhân Dân ngày 19.3.1979 đã tổng kết: “Thêm một chiến công hiển hách ghi vào lịch sử chống xâm lược của dân tộc ta:
Thắng lợi rất oanh liệt và toàn diện – Đánh bại 600 nghìn quân xâm lược Trung Quốc.
Bộ Quốc phòng ra thông cáo: Từ ngày 17.2.1979 đến ngày 18.3.1979: Ta loại khỏi vòng chiến đấu 62.500 tên Trung Quốc xâm lược; phá hủy 280 xe tăng, 276 xe vận tải, 115 khẩu pháo và súng cối; thu nhiều phương tiện chiến tranh, bắt nhiều tù binh.
Nhiệt liệt biểu dương các lực lượng vũ trang nhân dân và đồng bào các dân tộc các tỉnh biên giới phía bắc đã lập chiến công đầu xuất sắc; hoan nghênh quân và dân cả nước cùng kiều bào ở nước ngoài đoàn kết, tích cực góp phần cùng tiền tuyến đánh bại quân xâm lược.
Lập công xuất sắc chống quân Trung Quốc xâm lược: 48 đơn vị và 7 cá nhân được tặng thưởng huân chương”.

Có ai cắt nghĩa được, sau 21 năm ròng rã đánh nhau với đế quốc Mỹ khiến Mỹ chịu thiệt mạng gần 58.000 lính, cứ năm nào đến ngày 30.4 cả một xã hội rộn rịp lên đồng, tưng bừng không khí kỷ niệm chiến thắng “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”; còn chỉ sau 1 tháng 1 ngày đánh nhau với quân Trung Quốc, ta đã tiêu diệt được 62.500 tên giặc, nhưng mỗi lần đến ngày 17.2 nhà cầm quyền phải cố quên đi. Một tháng đánh giặc, kết quả hiển hách hơn 21 năm, có đáng bị quên lãng như thế không.

Dân chúng tầm nhìn hạn hẹp có thể không thấy hết sự phức tạp của chính trường, của bang giao quốc tế, chỉ có điều đã tự đứng ra giành lấy quyền lãnh đạo thì đừng hèn quá, “khôn” quá, đến mức để dân khinh thường. Đừng làm xiếc mãi nữa. Có ngày ngã vỡ mặt. Lúc muốn lấy lại lòng dân khi có biến, phỏng có được không?
___________________________________________
Nguồn: FB Nguyễn Thông (via anhbasam.wordpress.com)

New York Times: Sự bạo tàn của Trung Quốc trong chiến tranh biên giới 1979

New York Times

Tác giả: JANE PERLEZ

5-7-2014

Hà Thị Hiền đi dọc đường ray xe lửa ở Lạng Sơn, kết nối giữa Hà Nội và Bắc Kinh

LẠNG SƠN, Việt Nam – Chị mới 14 tuổi khi hỏa lực pháo binh Trung Quốc giã liên tục lên những ngọn đồi xung quanh nhà của chị ở miền Bắc Việt Nam, và hàng trăm ngàn lính Trung Quốc tràn qua biên giới. Chị nhớ lại cảnh chạy loạn cuống cuồng cùng cha mẹ của mình xuyên qua những cây đào, mái tóc dài ngang lưng xõa bay khi họ chạy trốn những kẻ xâm lược. Thật không may, họ chạy thẳng về phía quân thù.

Mẹ chị bị bắn chết trước mặt chị; liền phút sau, cha chị đã bị thương. “Tôi kinh hoàng. Tôi không nghĩ rằng tôi sẽ sống sót. Đạn bay loạn xung quanh. Tôi có thể nghe thấy và ngửi thấy tiếng súng, “Hà Thị Hiền, bây giờ 49 tuổi, dùng tay miêu tả những viên đạn đã bay gần xung quanh đầu chị đến mức nào vào ngày đầu tiên của cuộc chiến tàn bạo ngắn ngủi.

Cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Việt Nam vào năm 1979 kéo dài chưa đầy một tháng. Nhưng cuộc chiến thật hung tàn tới mức di sản của nó hôm nay vẫn thấm đẫm vào mối quan hệ chua chát hiện nay giữa hai nước Cộng Sản mà giờ đây đang đối đầu trong vùng biển tranh chấp ở Biển Đông.

Cả hai bên sau đó đều tuyên bố chiến thắng, mặc dù không bên nào chiếm ưu thế, và cả hai quân đội đều chịu tổn thất khủng khiếp.

Nếu một cuộc chiến nữa nổ ra bởi tranh chấp lãnh thổ quanh giàn khoan dầu của Trung Quốc ngoài khơi bờ biển của Việt Nam ở Biển Đông, thì Trung Quốc, với lực lượng hải quân ngày càng hiện đại hóa của nó, có khả năng sẽ giành chiến thắng, theo đánh giá của các chuyên gia quân sự . Vì vậy, trong một tình huống phần nào giống việc Mexico nằm sát Hoa Kỳ, Việt Nam phải thực hiện nghệ thuật sống cùng với một quốc gia quyền lực, một kỹ năng mà Việt Nam đã thực hành qua hàng ngàn năm liên tục bị xâm lược, đô hộ và hàng chục cuộc chiến tranh với Trung Quốc.

Ngôi mộ của mẹ chị Hiền, đã bị quân Trung Quốc bắn chết ngày 17-2-1979, trong khi cha chị bị thương

Nhưng đối đầu với một Trung Quốc, ngày nay giàu có hơn nhiều, quân đội mạnh mẽ hơn và đầy tham vọng hơn bất cứ thời điểm nào mà hai nước đã từng đối mặt nhau trong kỷ nguyên hiện đại, việc làm thế nào để chọc tức Bắc Kinh vừa đủ, khi nào cần giảm áp lực, và làm thế nào để sử dụng nhân tố Hoa Kỳ đang trở nên phức tạp hơn .

Trong tình trạng căng thẳng hiện nay, những tình cảm chống Trung Quốc của người Việt Nam dường như đã đi trước dự trù của Bộ Chính trị, hiện đang trị vì đất nước.

“Toàn dân Việt muốn được thoát khỏi tầm tay của Trung Quốc”, ông Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hiệp hội Văn học Hà Nội, một trong những người phản đối các giàn khoan dầu ở bên ngoài Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội cho biết. “Nhưng người dân Việt Nam đang tự hỏi chiến lược của chính phủ là gì, và tự hỏi liệu chính phủ có thực sự chống lại Trung Quốc hay là đang thỏa hiệp.”

Trong năm 2012, Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, Leon E. Panetta đã đến thăm vịnh Cam Ranh, một căn cứ lớn của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, nhưng cho đến nay quân đội Việt Nam, vẫn còn lưu tâm đến chiến tranh và những năm tháng duy trì quan hệ đối kháng giữa hai nước sau khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975, vẫn giữ khoảng cách với Mỹ.

Một phần của xa cách là kết quả của một điều luật của Mỹ cấm bán vũ khí cho Việt Nam, một di tích của chiến tranh Việt Nam. Nhưng Washington đang thể hiện sự quan tâm ngày càng tăng trong quá trình dỡ bỏ lệnh cấm, và dự kiến mới đại sứ Hoa Kỳ đến Việt Nam, Ted Osius, người đang chờ xác nhận của Thượng viện, cho biết trong phiên điều trần tháng trước rằng việc nới lỏng lệnh cấm vận cần được xem xét.

Cho tới thời điểm này, Việt Nam mua vũ khí chủ yếu từ Nga, Israel và Ấn Độ. Việt Nam đã nhận hai tàu ngầm lớp Kilo từ Nga, và đã đặt đơn hàng cho bốn chiếc nữa. Nhật Bản đã cam kết cung cấp một số tàu bảo vệ bờ biển. Trong một động thái nhằm khuyến khích Việt Nam chấp nhận sự thân cận với Washington hơn, Ngoại trưởng John Kerry công bố 18 triệu đôla viện trợ không gồm vũ khí cho an ninh hàng hải của Việt Nam trong chuyến thăm vào tháng Mười Hai năm ngoái.

“Việt Nam không mong đợi, hoặc muốn, sự can thiệp của Hoa Kỳ”, ông Đặng Đình Quý, hiệu trưởng của Học viện Ngoại giao Việt Nam bày tỏ. “Chúng tôi không mong đợi sự giúp đỡ từ bất cứ ai,” ông nói. “Chúng tôi tin tưởng chúng tôi có thể tự làm điều đó. Chúng tôi sẽ tiếp tục các chiến lược hiện tại , nỗ lực nhằm ngăn chặn một cuộc đụng độ, và nếu điều đó xảy ra, chúng tôi sẽ cố gắng để tự đối phó với nó. Chúng tôi chào đón tất cả các bên ở Biển Đông như miễn là họ có thiện chí giữ gìn hòa bình, ổn định và trật tự pháp lý trong khu vực. “

Cuộc chiến năm 1979, theo lệnh của lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình nhằm trừng phạt Việt Nam đã xâm lược Campuchia, diễn ra dọc đường biên giới giữa hai nước. Những ký ức còn hằn sâu không chỉ vì số người chết mà còn vì lính Trung Quốc đốt phá tan hoang các thị trấn và làng mạc khi rút chạy, phá hủy các trường học và bệnh viện, những thứ mà về sau lính Trung Quốc gọi là “ nụ hôn tạm biệt”.

Lạng Sơn, sau đó được xây dựng lại, và những tòa nhà cao tầng khiêm tốn được trang trí với đèn neon tạo cho cảm giác một địa điểm buôn bán thịnh vượng. Nhưng người dân ở đây vẫn còn nhớ tới con sông đầy những xác người, cả Việt Nam lẫn Trung Quốc, và đã mất biết bao lâu để thứ mùi khủng khiếp ấy phai nhạt. Tổng số người chết của cả hai bên được ước tính ít nhất 50 nghìn lính, cùng với mười ngàn thường dân Việt Nam.

Những người lính Trung Quốc được ra lệnh là phải thật tàn bạo và đã phải viện đến sự “điên cuồng của những cảm xúc cực đoan”, theo một cựu sĩ quan tình báo Trung Quốc, Xu Meihong, người di cư đến Hoa Kỳ và xuất hiện trong cuốn sách lịch sử chiến tranh, “Chiến lược quân sự của Trung Quốc trong chiến tranh Đông Dương lần thứ ba” của Edward C. O’Dowd.

Quyết định của Trung Quốc tiêu diệt Lạng Sơn đã để lại dấu ấn vĩnh viễn đối với một học sinh trung học lúc đó, tên là Lương Văn Lang, hiện đang làm nhân viên bảo vệ.

“Trái tim tôi đầy hận thù, toàn bộ thành phố đã bị phá hủy, tất cả mọi thứ là đống đổ nát”, ông nói. Hai năm sau khi Trung Quốc rút đi, ông được chọn để đào tạo bắn tỉa trong lực lượng dân quân tự vệ ở địa phương nhằm chống lại các cuộc tấn công lẻ tẻ của Trung Quốc còn tiếp diễn cho tới cuối những năm 1980.

“Tôi thường thức dậy lúc 2 giờ sáng,chọn vị trí trên một sườn núi cao, và tôi có thể thấy lính Trung Quốc đào đường hầm”, ông nói. “Đồi của họ thấp hơn so với chúng tôi, và đôi khi họ sẽ di chuyển cao hơn. Chúng tôi sẽ chờ đợi cho đến thời điểm khi họ di chuyển và khai hỏa. “Ông đã giết chết sáu lính Trung Quốc trong mười ngày, ông tự hào nói.

Để tưởng thưởng cho sự dũng cảm và độ chính xác của mình, ông Lang giành được ba huy chương mà ông cất giữ trong một hộp lót xa tanh.

Sau khi Trung Quốc và Việt Nam bình thường hóa quan hệ vào năm 1991, chính phủ xóa bỏ tất cả các kỷ niệm chính thức của cuộc chiến năm 1979, một sự tương phản với vô số các đài tưởng niệm chiến tranh thời chống Pháp và Mỹ, mà trong đó Trung Quốc đã cung cấp những hỗ trợ quan trọng.

Khi quan hệ giữa hai đảng cộng sản anh em tan băng, kinh doanh qua biên giới phát triển mạnh mẽ và những ký ức đã bị lu mờ.

Những ký ức ấy lại nổi lên hai vài tháng trước đây với sự xuất hiện của các giàn khoan dầu của Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp ngoài khơi bờ biển của Việt Nam. Đã có những cuộc đụng độ hàng ngày giữa các tàu thuộc lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc và Việt Nam, dẫn đến cuộc bạo loạn chống Trung Quốc tại Việt Nam để lại bốn công dân Trung Quốc bị chết và làm hư hỏng các nhà máy nước ngoài.

Chị Hiền, hiện đang điều hành một nhà khách và đón chào khách hàng Trung Quốc, nói rằng chị vẫn sống với những ký ức kinh hoàng thời thơ ấu. Sau khi mẹ chị bị giết, những người lính tìm một người phụ nữ lớn tuổi để chăm sóc chị, và sau đó chỉ cho hai người phụ nữ đau thương ấy tới chỗ trú ẩn cùng với những người sống sót khác trong một hang động đá vôi.

“Nhưng hàng trăm người đã bị giết chết “, chị nói. “Tôi thấy một người phụ nữ với đôi chân của cô bị đứt lìa, nằm trên mặt đất. Nhìn vào đôi mắt của cô, chúng tôi biết cô vẫn còn sống và muốn giúp đỡ, nhưng chúng tôi chẳng có thể làm gì cả. Chúng tôi chẳng có gì cả. Tôi sẽ không bao giờ quên hình ảnh ấy”.

Nguồn: FB Tin Việt

Ghi chép:
MỘT LẦN QUÁ GIANG PHI TRƯỜNG BẮC KINH

(NCTG) “Họ dường như được tập sống theo chỉ định, bầy đàn và khuôn hộp. Chỉ ba trong số gần ba mươi người dám tách rời nhóm để đi riêng miễn cưỡng, vậy nếu nhen nhúm có một Thiên An Môn thứ hai thì sẽ có bao nhiêu thanh niên trong khoảng 1 tỉ dân can đảm tách rời bầy đàn, bước ra khỏi khuôn mẫu tư duy để làm một cuộc cách mạng?”.

Bắc Kinh chìm trong ô nhiễm
Bắc Kinh chìm trong ô nhiễm


Tiếng của phi cơ trưởng cất lên, cắt ngang tiếng hát Châu Kiệt Luân đang phát qua máy khiến tôi tỉnh giấc, thông báo cho hành khách biết máy bay đã vào đến không phận Bắc Kinh và chuẩn bị đáp xuống trong vòng 40 phút.
Lần cuối cùng tôi nhìn vào bản đồ cập nhật đường bay từ Melbourne đến Bắc Kinh là còn 8 tiếng nữa trước khi thiếp vào giấc ngủ bằng nhạc Hoa. Chắc bạn sẽ thắc mắc vì sao tôi nghe nhạc Hoa để dỗ ngủ trên chuyến bay dài, đó là do không có lựa chọn nào khác vì tuyến bay từ Úc tới Bắc Kinh của chúng tôi là của Hãng Hàng không Air China, một hợp thương tại Trung Quốc của United Airline. Và vì thế, các mục giải trí phục vụ khách hàng trong lúc bay – từ phim tới nhạc – đều hầu hết ưu tiên cho hành khách gốc Hoa.Tôi uể oải xoay mình, gói ghém các thứ linh tinh chuẩn bị rồi đánh thức hai nhóc tì dậy. Khoang máy trở nên ồn ào hơn, đèn được bật lên. Tiếng phi cơ trưởng lại phát lên một loạt tiếng Trung thông báo rất dài nhưng lại rất ngắn gọn bằng tiếng Anh rằng chuẩn bị hạ cánh, nhiệt độ bên ngoài là -6C, vậy thôi. Anh và tôi nhìn nhau nhún vai cười trừ sau khi nghe xong thay vì nhướng mắt phân vân như lúc đầu vì đã thích nghi với lối thông báo một cách khó hiểu giữa tiếng Hoa và Anh như thế này suốt chuyến bay.Gần tới giờ đáp, chúng tôi bèn mặc áo ấm vào cho mình và tụi nhỏ. Một cô tiếp viên đi ngang qua, chợt dừng lại hỏi anh câu gì đó tôi không nghe rõ giữa tiếng ồn ào trong khoang máy, rồi chỉ vào hai đứa nhỏ.They’re OK. Thank you – anh trả lời.But you… transit… – cô tiếp viên.OK, we’re fine, thanks again.

Tôi nghe loáng thoáng tiếng được tiếng mất nên hỏi lại anh sau khi cô rời đi, anh kể sơ cô ấy thấy áo ấm của hai đứa mỏng quá, sợ không đủ ấm khi ra máy bay. Chúng tôi tự bảo nhau, tuy biết bên ngoài thời tiết Bắc Kinh rất lạnh nhưng nghĩ sẽ không sao vì chúng tôi dự định không ra bên ngoài tham quan nên áo mỏng cũng không hề chi. Lúc ở Melbourne trước khi bay, chúng tôi đã coi dự đoán thời tiết ở Bắc Kinh, weather app hiện báo là nhiệt độ rất lạnh, lại còn lưu ý “hazardous air zone”, vì thế nên anh bảo không đi đâu, chỉ ở trong phi trường tránh ô nhiễm.

Phi trường Bắc Kinh không dùng đường hộp nối liền từ cửa máy bay vào thẳng phi trường

Phi trường Bắc Kinh không dùng đường hộp nối liền từ cửa máy bay vào thẳng phi trường
Máy bay hạ cánh khá êm, chúng tôi nhìn nhau gật gù cười nhẹ, một thói quen mỗi lần bay của chúng tôi là chấm điểm khả năng tay lái của phi cơ trưởng dựa theo độ êm hay gập ghềnh của bánh xe phi cơ khi chạm đất. Xuống tới phi đạo nhưng vẫn phải đợi thêm 30 phút để vào được chỗ đậu, lúc này đã là 6h30 sáng ngày đầu năm ở Bắc Kinh. Chúng tôi đã đón giao thừa giờ Úc Châu trên máy bay, các cô tiếp viên mời hành khách rượu đỏ để cùng chào đón năm mới.

Khoản chờ rồi cũng qua, chúng tôi bắt đầu di chuyển ra ngoài, hai đứa nhỏ lanh chanh đi trước. Bước ra khỏi cửa máy bay, tôi ngỡ ngàng vì quá bất ngờ, nghe tiếng hai đứa loáng thoáng đằng trước kêu “mommy!”. Thì ra họ không dùng đường hộp nối liền từ cửa máy bay vào thẳng phi trường (jetway) như kiểu Mỹ hay Úc dùng cho các chuyến bay quốc tế, mà hành khách phải đi từ máy bay xuống bằng thang sắt rồi đi bộ ra xe buýt đậu gần đó, sau đó xe chở vô khu vực phi trường, hèn chi bọn nhỏ bị mất phương hướng lúng túng kêu mẹ.

Lúc này tôi mới hiểu vì sao cô tiếp viên đã cố gắng thuyết phục chúng tôi cần mặc áo dày cho chúng. Di chuyển giữa cái lạnh -6C, xung quanh mịt mờ trong ánh đèn vàng, tất cả sự vật chung quanh rất khó nhận ra, ập vào mũi là mùi tương tự như mùi dầu máy xe cháy khét trong không khí. Nhìn đâu cũng là một màn sương mù mờ dày đặc. Lên xe, tôi nói anh “trời mù sương quá ha...”, anh lắc đầu đáp nhẹ “không, ô nhiễm thế đó”. Tôi tiếp “em ngửi thấy mùi khí đốt, anh có ngửi thấy không?”. Anh gật đáp “do khí thải từ nhiều hãng xưởng đó”.

Dù đã biết trước, nhưng tôi không ngờ tình trạng ô nhiễm nơi đây tới mới mức trầm trọng như thế nào cho đến khi tận mắt thấy, mũi ngửi giữa không gian hiện thực…

Vào đến trong phi trường, chúng tôi theo đoàn người cùng chuyến và hệ thống bảng chỉ dẫn để để đến chỗ thủ tục nhập cảnh. Phi trường Bắc Kinh rất lớn và bề thế, đúng lối “chứng tỏ mình” vốn dĩ của người Trung Quốc như câu nói dân gian “nhân sao vật vậy”. Thậm chí đẹp và hoành tráng hơn cả phi trường các nước Phương Tây. Bên trong ga quốc tế, xen kẽ giữa các khu ghế nghỉ chân, họ xây những hồ giả, mái đình, vườn ngự uyển để hành khách có thể tưởng tượng mình đang ngồi ngoài thiên nhiên trong lúc ăn uống và nghỉ ngơi. Tôi thầm nghĩ thật chua chát, ở ngoài ô nhiễm quá không ai muốn ra với thiên nhiên, họ đành phải tạo thiên nhiên bên trong khung bê tông cốt thép để người thưởng lãm.

Bọn trẻ vô tư chơi đùa, không hề biết bên ngoài bầu không khí ô nhiễm đến mức nào

Bọn trẻ vô tư chơi đùa, không hề biết bên ngoài bầu không khí ô nhiễm đến mức nào
Dù gặp chút khó khăn để hiểu các bảng chỉ dẫn, cuối cùng chúng tôi cũng tìm được đến nơi cho nhập cảnh miễn visa 72 tiếng để có thể di chuyển xuyên ga giữa quốc tế và nội địa. Nhân viên hải quan của phi trường đều mặc đồng phục màu đen, đi giày bốt nhà binh theo kiểu quân phục hơn là dân phục. Hầu hết đều ở lứa tuổi chừng đôi mươi còn phảng phất nét ngây ngô. Họ nói năng nhỏ nhẹ, lịch sự nhưng dáng vẻ cứng ngắc, các thao tác đều mang tính đúng theo chỉ định, dường như họ không được phép hay được luyện tập để hiểu và biết mình cần phải làm gì, tự chủ ứng biến theo tình huống như thường thấy ở nhân viên phi trường Phương Tây.

Hai cô gái làm thủ tục cho nhóm hành khách chúng tôi cứ liên tục hỏi nhau phải làm sao bằng tiếng Tàu khi xem xét hộ chiếu của từng người. Thậm chí một cô không biết nên dùng loại ấn nào trong 2-3 cái để đóng mộc vào hộ chiếu. Cô cứ lúng túng đổi qua đổi lại, nhìn đi nhìn lại trước khi đóng xuống. Lúc này tôi thầm lo trong bụng vì nếu nhỡ cô ta đóng lộn dấu không khéo cả nhà bị kẹt lại thì toi. Tới phiên xét hộ chiếu của anh, cô ta giơ tấm hộ chiếu lên cao ngang tầm mặt anh để kiểm chứng hình và người giống nhau.

Sau đó cô bốc điện thoại gọi, một chút sau cô gái khác xuất hiện, tôi đoán đó là cấp trên của cô này, nhìn vào hộ chiếu của anh và nhận dạng xong cô bắt phone lên gọi mà không nói gì. Sau đó cô ta bỏ đi, cô gái cấp dưới hoàn tất đóng mộc mà chẳng hề hỏi han. Chúng tôi nhìn nhau nhíu mày không hiểu, sau này tôi đùa chắc mặt anh giống ai đó nằm trong danh sách “phản động” nên mới bị cần nhận diện hai lần.

Muốn đến phòng trọ nghỉ chân trả phí theo giờ, chúng tôi phải đi xe lửa điện từ Ga 3 quốc tế xuyên qua Ga 2 nội địa và Ga 1 cảng Đi. Trong lúc chờ xe đến, bỗng dưng tôi nghe tiếng ồn ào cười nói của một đám đông từ đằng sau. Thì ra đó là một nhóm chừng ba chục thanh niên nam nữ nhân viên phi trường tan ca ra về. Khi tàu trờ tới, chúng tôi và một số hành khách khác bước vào toa ngay cửa, họ ở phía sau bước theo nhưng lại rẽ sang chọn toa trống bên cạnh chưa có hành khách nào rồi vào chung cả nhóm.

Một vài trong số đó có vẻ lưỡng lự nửa muốn vào toa của chúng tôi, nửa muốn sang cùng nhập bọn với đồng nghiệp. Cuối cùng tất cả dồn vào một toa dù chật chội, chỉ có mỗi ba trong số ấy, một nữ hai nam là tách lẻ chọn vào toa chúng tôi. Những người bên kia nói với sang vài câu gì đó, ba người lắc đầu. Suốt chuyến đi, họ dường như có vẻ không thoải mái tự tin cho lắm khi phải tách rời đoàn nhóm, và cứ đăm đăm nhìn vào màn hình cell phone không rời.

Nhìn nhóm thanh niên nam nữ cười đùa vui vẻ cùng nhóm toa bên kia qua cửa kiếng, quay qua quan sát ba bạn trẻ bên này, tôi chợt nghĩ về cuộc thảm sát Thiên An Môn mà thầm tự hỏi: trong con số ấy, bao nhiêu biết về sự kiện này? Họ dường như được tập sống theo chỉ định, bầy đàn và khuôn hộp. Chỉ ba trong số gần ba mươi người dám tách rời nhóm để đi riêng miễn cưỡng, vậy nếu nhen nhúm có một Thiên An Môn thứ hai thì sẽ có bao nhiêu thanh niên trong khoảng 1 tỉ dân can đảm tách rời bầy đàn, bước ra khỏi khuôn mẫu tư duy để làm một cuộc cách mạng?

Ẩm thực tại phi trường

Ẩm thực tại phi trường
Bên ngoài, trời đã sáng hơn để tôi có thể nhận diện chung quanh một chút. Tàu điện chầm chậm lăn trên đường ray lượn lách giữa các bức tường xi măng được tô điểm với những bụi cây và dây leo. Nhìn những bụi cây tím ngắt giữa trời buốt giá mà không khỏi thắc mắc cây chết là do cái lạnh, do ô nhiễm, hay vì cả hai. Ở đây, nhìn Người – Vật – Cây Cỏ trong làn sương mù u ám quện mùi khí đốt mà lòng tôi bỗng chùng xuống thương cảm…

Vào đến ga, mọi người rời tàu tiếp tục đi. Riêng nhóm nhân viên thì khác hẳn, họ vẫn đi chung với nhau thành nhóm không rời, rồi đang từ một đám đông, họ chuyển đội hình thành hai hàng dừng lại sát bên thành tường. Một người trung niên mặc đồng phục áo đỏ cấp trên xuất hiện nói vài câu rồi dẫn đầu nhóm rẽ vào một lối ra khác. Chúng tôi chợt hiểu ra, có lẽ họ không được phép đi lông rông qua lại tự do trong phi trường như kiểu nhân viên ở Phương Tây ngoài giờ làm việc.

Đi ngược đi xuôi, lên lầu xuống lầu và nói chuyện với nhân viên bằng hai tay, cuối cùng chúng tôi cũng tìm thấy được nhà trọ. Mướn phòng xong, mặc dù có wifi (gọi là free airport wifi) nhưng không nhập được, chúng tôi phải xin số mật mã của nhà trọ. Để các túi ba lô lại trong phòng cho bớt nặng, chúng tôi bắt đầu “thám hiểm” phi trường và kiếm chút gì để lót dạ. Lúc này khoảng 9 giờ, phi trường bắt đầu có nhiều người nên bớt tĩnh mịch đôi chút.

Trong lúc dạo quanh, tình cờ chúng tôi thấy một đoàn chừng 20 chục cô gái túm chụm vào nhau di chuyển chầm chậm giữa lối đi như một tổ ong. Cô nào cũng tay giơ cao điện thoại cầm tay chụp hình liên tục, miệng kêu gì đó ý ới âm thanh vừa đủ không quá to hay nhỏ. Khi đến gần, chúng tôi mới biết, à thì ra trong giữa tổ ong thiếu nữ ấy là một anh thanh niên đeo băng che kín nửa khuôn mặt, có lẽ là ngôi sao ca sĩ hay diễn viên nổi tiếng nào đó của Trung Quốc. Anh cười cười nhận xét “chắc là anh celebrity nào đây, mấy em bu lại đi một đám giống như tổ ong vậy...”.

Có lẽ do ảnh hưởng K-pop của Hàn Quốc, nên có khá nhiều quán ăn Hàn kết hợp Tầu trong phi trường. Ngoài ra, chỉ có 1 tiệm hamburger, 1 tiệm gà chiên kiểu Mỹ, 1 tiệm pizza và 1 tiệm thức ăn Thái. Vì trời lạnh nên thèm chút súp nóng, chúng tôi ghé vào quán Tàu – Hàn. Trong lúc chờ thức ăn ra, tôi thử vào FB nhưng vẫn không nối kết được. Wifi dù đã kết nối nhưng liên tục bị cắt, cứ phải login lại sau 5-10 phút. Tất cả các hàng quán ăn uống ở Ga 1 nằm trên lầu hai, vì thế nên bạn có thể vừa ăn uống vừa ngắm toàn cảnh hoạt động ở tầng dưới từ ban công.

Cảnh thiên nhiên nhân tạo bên trong khung bê tông cốt thép

Cảnh thiên nhiên nhân tạo bên trong khung bê tông cốt thép
Sau khi nghe tôi than là vẫn không thể vào FB để cập nhật hành trình cho gia đình biết, anh cười chỉ xuống một cái trụ màu cam tầng dưới cho tôi thấy rồi nói “FB & Wi-Fi mạng vô không được nhưng muốn gọi điện thoại thì tha hồ, sim card on the go, only in China”. Họ để khá nhiều các trụ màu cam máy tự động như thế rải rác trong phi trường. Bạn chỉ cần nhét tiền vô máy, lấy một thẻ sim lắp vào phone là gọi được ngay, không cần phải thông qua công ty viễn liên gì sất.

Cách máy tự động bán thẻ sim không xa là máy rút tiền ATM. Ngay vừa lúc ấy, chúng tôi thấy nhân viên nhà băng đến để bỏ thêm tiền vào máy, hộ tống anh này là hai công an quân đội tay cầm AK47, nón cối và vũ trang đầy đủ. Tự dưng cảm thấy chút lạnh chạy dọc xương sống vì ở Mỹ, chỉ có trường hợp nguy hiểm tối đa hoặc quan trọng lắm bạn mới thấy cảnh sát đặc nhiệm (SWAT team) mang súng AK47 hay loại tầm cao xuất hiện. Còn bình thường, dù có mang súng tay thì cảnh sát cũng không để súng lồ lộ như thế giữa dòng người qua lại nơi công cộng. Hình ảnh công an cầm AK47 hiên ngang nơi công cộng này giống y như trong sân bay Nội Bài ở Hà Nội mà tôi từng thấy cách đây mười năm.

Thức ăn của chúng tôi cũng vừa được đem ra. Nhìn mấy miếng thịt bò Bulgogi mỏng lèo tèo trên dĩa của anh, thịt heo hai phần ba là mỡ trong món canh kim chi của tôi, ngó ra bên ngoài kia qua lớp kiếng toà nhà… đã gần trưa mà vẫn chưa thấy mặt trời sau màn sương mù, thỉnh thoảng vẫn ngửi mùi khí đốt len lỏi, rồi nhớ tới mấy thông tin gạo nhựa, trứng giả, thịt thối biến thành tươi mà chợt ngần ngại. Chúng tôi chỉ ghé chân tạm thời có vài tiếng, ăn tạm một bữa thôi, còn đối với những lớp người đang cười nói ở tầng dưới kia và bên ngoài khung kiếng là chuyện thường nhật qua năm này tháng nọ trong môi trường như thế, ăn cũng chết mà không ăn cũng chết…

Ăn xong, chúng tôi dạo qua các tiệm bán đồ lưu niệm xem chơi. Ở đây họ rất tự hào về gấu trúc Panda, tiệm nào cũng bán Panda đủ loại đủ cỡ từ thú nhồi bông, gối, tượng đất cho đến quần áo giả trang. Thứ nhì là các món đồ đặc thù văn hóa và nghệ thuật bản địa. Thứ ba là sâm và nguyên liệu thuốc Bắc. Không thấy gì hứng thú và bắt đầu thấm mệt nên chúng tôi trở về nhà nghỉ để ngả lưng một chút, đang đi bất chợt nghe tiếng la ó to tiếng của một phụ nữ cách đó không xa. Tuy phi trường rộng lớn nhưng không quá ồn nên có thể nghe tiếng chị chửi rõ mồn một.

Thì ra là chị bắt ghen tại trận anh chồng đưa bồ đi chơi vào ngày mùng một tết. Miệng vừa chửi, tay chị cầm bóp phang vào cô bồ vài cái rồi quay sang phang tới tấp vào anh chồng. Dù không hiểu nhưng có thể cảm nhận được nỗi uất nghẹn qua tiếng gào thét của chị… “Chắc chỉ có đại gia mới có tiền đưa bồ đi bay chơi ngày lễ này như thế”, anh suy đoán. Liên tưởng đến mấy chuyện chân dài với đại gia ở Việt Nam, tôi ngán ngẩm lắc đầu, đàn bà lấy phải đàn ông lăng nhăng ở đâu cũng khổ như nhau… hời!

*
Từ Cảng Đi ở Ga 1 nội địa, chúng tôi phải qua cửa khẩu thêm lần nữa để trở về lại Ga 3 quốc tế ban đầu. Chúng tôi tạm dừng bước, lưỡng lự xem phải đi lối nào cho đúng thì có một ông cỡ độ sáu mươi đứng gần đó bước đến hỏi chúng tôi đang tìm gì. Ông nói tiếng Anh rất lưu loát, phong cách tự tin, nhiệt tình. Chúng tôi hơi bất ngờ vì ông là người duy nhất bắt chuyện hỏi xem có cần giúp đỡ thay vì đợi bị hỏi. Nghe xong, ông chỉ tay và cười nói “các bạn đi đúng hướng rồi đó, cứ tiếp tục đi, vượt qua cửa chặn kia là có thể an tâm về nhà…”. Chúng tôi cám ơn và đi tiếp. Ông cụ chắc là Hoa kiều sống ngoại quốc lâu năm về thăm nhà vì phong thái giao thiệp khác hẳn so với người địa phương.
Tác giả bài viết

Tác giả bài viết
Về tới Ga 3, ở đây không gian khác hẳn so với hai Ga kia, chỉnh chu và đẳng cấp hơn với nhiều thương hiệu thời trang. Ghé vào một quán ăn, chúng tôi gọi mì hoành thánh, cơm chiên, cơm xá xíu để xem cùng món mà có khác vị so với ở Mỹ bao nhiêu. Mùi vị nêm nếm và cách nấu không khác so với ở Mỹ hay Úc là mấy. Tuy vậy, không biết có phải do tâm lý mà nhận xét thiên kiến, nguyên liệu thực phẩm ở đây chất lượng cao hơn so với Ga 1 nội địa. Có lẽ tiêu chuẩn bán hàng cho khách ngoại khác với khách nội.

Xa xa ở góc phòng một bàn gần lối đi ra vào bếp, nhân viên quây quần ăn uống vui vẻ giờ giải lao. Giờ tôi mới để ý, ai cũng đều có làn da rất trắng, mịn, đẹp cả nam lẫn nữ. Đặc biệt là nữ hầu hết để mặt mộc, ít phấn son. Tôi chỉ cho anh và hỏi khẽ “ở trong môi trường ô nhiễm vầy mà sao da họ đẹp còn hơn mình vậy ta?!?”. Anh cười lắc đầu vỏn vẹn “chắc có thuốc..”. Có lẽ vậy vì cái trắng là trắng xanh xao thiếu sắc thể, mỏng mảnh, yếu bịnh như thiếu ánh nắng lâu năm. Chợt nhớ lúc ở Sydney, tôi thấy các tiệm thuốc ở đó lúc nào cũng đông nghẹt người, phần nhiều là khách du lịch Trung Quốc. Cô em họ kể rằng dân Tàu qua Úc du lịch hay mua rất nhiều vitamin và sữa trẻ em để mang về.

Nghĩ thật tội, không khí ô nhiễm thấm qua thực phẩm, mà không ăn thì không được, người ta đành phải uống dược phẩm nhân tạo để nuôi dưỡng và duy trì sự sống cơ thể. Cũng chẳng ngạc nhiên gì khi biết ông Hoàng Kiều làm giàu nhờ từ thị trường Trung Quốc với các dược phẩm quảng bá chức năng giúp tẩy độc tố trong người. Trong tình trạng cùng quẫn, con người ta cúng bái thầy thuốc tứ phương bất kể có chắc hiệu quả hay không là tâm lý chung. Cuối cùng, cái giá phải trả của hàng hóa “Made In China” giá rẻ bán hàng loạt lan tràn trên thế giới có xứng không? Tầm mức ảnh hưởng của sự đánh đổi ấy không chỉ ở một thế hệ mà nhiều thế hệ về sau, không chỉ là thời gian ngắn 5-10 năm mà hàng chục năm về sau nữa…

Nhìn hai đứa nhỏ vẫn vô tư đùa giỡn với nhau trong lúc đợi, bên ngoài làn sương mù vẫn bất di bất dịch dù trời đã về chiều, tôi chụp hình ghi lại kỷ niệm con. Lại nghĩ tới mấy đứa bé đồng lứa chúng nó bên ngoài lớp kiếng kia mà lòng trùng xuống, bèn chụp lại vài tấm sương mù để lưu lại nhắc nhở mình. Tôi từng có ác cảm với dân du lịch Trung Quốc vì tánh xấu của họ, nhưng một ngày ở đây chứng kiến đủ để rồi có cái nhìn thông cảm với họ hơn…

*
Cuối cùng chúng tôi cũng an vị vào chỗ ngồi của mình trong máy bay. Cảm giác “nhà” thân quen trở về khi nghe tiếng chào hỏi của các tiếp viên người Mỹ. Anh mở phone mua wifi của hãng hàng không để liên lạc gia đình, song vẫn không thể kết nối vào mạng. Hỏi cô tiếp viên giúp kiểm chứng xem máy bay có mở wifi hay không thì cô xác định là có. Tới gần giờ cất cánh, cô đi ngang qua chúng tôi, ghé hỏi tình trạng wifi, anh lắc đầu vẫn chưa vào mạng được. Cô chia sẻ có một số hành khách khác cũng hỏi cô về wifi vì bị tương tự.

Anh cười nói đùa “cả ngày ở trong phi trường chúng tôi đã không thể vào mạng, có thể do họ chặn, chắc đợi ra đến hải phận quốc tế thì mới hết bị chặn...”. Cô cười theo gật gù “có thể lắm…”. Mà quả thật, sau khi cất cánh và phi đoàn trưởng cho phép hành khách có thể đi lại trong khoang khi cần thiết, chúng tôi vào mạng dễ dàng. Sau một ngày bị tù túng cách ly với thế giới thông tin, cảm giác tự do dấy lên khi được vào mạng trở lại. Y như là cảm giác vừa thoát ra khỏi cái hộp sau khi bị nhốt cả ngày, thở phào nhẹ nhõm. Thế mới biết trân quý những gì mình đang được thừa hưởng.

Bài và ảnh: Mai Vũ, từ Hoa Kỳ
______________________
Nguồn: nhipcauthegioi.hu

Chúng tôi đang được sống trong một thời kỳ huy hoàng của lịch sử VN

benh-dya-mat

Nhìn các con số thống kê số người chết vì bệnh tật và tai nạn giao thông ở Việt Nam.

Số người chết về bệnh tim mạch khoảng 200 000 một năm trung bình một ngày có 548 người chết bị bệnh tim mạch.

Số người chết vì bệnh ung thư khoảng 115 000 người một năm trung bình một ngày có khoảng 315 người chết bị bệnh ung thư.

Số người chết về tai nạn giao thông là 11 000 người một năm.
trung bình mỗi ngày chết về tai nạn giao thông khoảng 30 người.

Tổng cộng cả 3 loại  trên( tim mạch, ung thư, tai nạn giao thông) cướp đi sinh mạng ngươi là 893 một ngày, một năm cướp đi sinh mạng người là 326.000 người.

Tổng cộng số người chết bởi các loại bệnh tật gấp 4 lần bệnh tim mạch (khoảng 800 000 người một năm), trung bình một ngày chết  2190 người ở VN.

Quân số trung đoàn ở Việt Nam khoảng từ 1.500-3.000 người. Một ngày ở Việt Nam số người chết bệnh tật  khoảng 1 trung  đoàn ( 2190 người).

Quân số sư đoàn Việt Nam  khoảng từ  8.000-10.000 người (gấp khoảng 4 đến 5 lần trung đoàn).  4 đến 5 ngày ngày ở Việt Nam số người chết bệnh tật  khoảng 1 sư đoàn.

Đất nước không có chiến tranh nhưng số người chết vì bệnh tật tai nạn giao thông thật là kinh khủng.

CHÚC CÁC BẠN SỐNG SÓT KHÔNG BỊ BỆNH TẬT HAY TAI NẠN GIAO THÔNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ HUY HOÀNG.

Nhóm BĐX
_________________________________
Nguồn: badamxoevietnam2.wordpress.com