Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Lời cám ơn

Hân hạnh chào đón bạn đọc,

Chân thành cám ơn các tác giả đã cho phép chúng tôi sử dụng bài viết, thơ, truyện, nhạc, tranh vẽ, ảnh chụp,…trên Blog này;

Chân thành cám ơn trước những tác giả mà chúng tôi chưa liên lạc, nhưng đã mạn phép* quý vị đưa bài, hình ảnh, tranh vẽ, ảnh chụp,…giới thiệu đến bạn đọc;

Mến chúc quý vị và quý bạn sức khoẻ, bình an,

Trân trọng,

Riverwood Arts Center 03a (Small)

Sầu Đông  Nguyễn Thọ Chấn

* Trong trường hợp quý vị có những điều cần lưu ý, xin vui lòng cho biết qua điện thư. Chân thành cảm ơn quý vị.

Đôi giòng: Phỏng vấn rất nên đọc lại của Nguyễn Hùng với cựu tướng Lê Minh Đảo (VNCH) ở Hoa Kỳ.

Gặp Tướng bị ‘cải tạo’ 17 năm

(17 tháng 5 2015)

Tuesday, September 27, 2016

Sống dưới các chế độ

Huỳnh Ái Tông

Không hiểu may rủi như thế nào, nhưng tôi đã sống một đời người qua nhiều chế độ khác nhau.

Tôi sinh ra năm 1941, nên tôi đã sống dưới chế độ bị trị, do người Pháp đô hộ chúng ta, thuở đó miền Nam là đất thuộc địa, tôi còn quá nhỏ, nên chỉ biết rằng trong làng có Ban Hội Tề cai quản, lờ mờ tôi hiểu rằng Xã Trưởng là người quyền uy nhất trong làng, nhưng người có quyền bắt nhốt, đóng trăn kẻ phạm tội là Thầy Hương Quản. Nhà Thầy Hương Quản ở xa, phía bên kia sông, còn Xã Trưởng ở sát cạnh nhà tôi, có lẽ gia đình Xã trưởng và gia đình nhà tôi là hàng xóm lâu đời, ở một xóm khác, sau nầy mới mua đất cất nhà gần nhau, do chỗ hàng xóm xưa nên tôi gọi anh ta bằng anh, còn vợ Thầy Hương Quản có bà con với gia đình tôi, nên về vai vế tôi cùng gọi bằng anh.

Trong trí nhớ của tôi, Làng, tiếng gọi giản đơn Ban Hội Tề, có bắt dân làm sâu một lần, đó là đào con kinh xuyên qua Cù lao, để đường thủy được thông thương từ Xép ra sông Hậu, cho thuận tiện việc giao thông đường thủy. Ngày nay, giao thông đường thủy không cần thiết, nên con kinh đang được san lấp, để phân lô cấp nền nhà.

Sự kiện nầy, đến nay những hình ảnh thanh niên đào kinh, thợ mộc làm cầu vẫn còn trong tâm trí tôi nhưng nó đã mờ nhạt, vì lúc đó tôi còn khá nhỏ, chưa được đi học ở ngôi trường làng với 3 lớp học, tường xây tô, mái ngói móc.

Thỉnh thoảng nhà có đám cưới, hỏi có nhiều người tới dự, chủ nhà trang hoàng, che rạp, người ta cũng treo một lá cờ “Tam tài”, xanh dương, trắng, đỏ. Sau nầy tôi mới biết đó là cờ của Pháp.

Rồi Nhựt đảo chánh Tây, rồi ngày Nam Bộ kháng chiến bùng nổ, ngày 23 tháng 9 năm 1945. Trong làng, Ban Hội Tề ngưng hoạt động, các Thầy giáo đóng cửa Trường về quê hay theo kháng chiến. Riêng có thầy dạy lớp Nhì, được gọi là Thầy Nhì Thạnh, vì tên của thầy là Châu Văn Thạnh, đứng ra điều khiển Thanh Niên Tiền Phong, hô hào trai tráng vót tầm vong vạt nhọn, vào hàng ngũ, tập dượt đi đều bước, có người điều khiển đếm: một, hai, một, hai… Họ thường tụ hội trong vườn cây dầu của gia đình tôi, vì nơi đó có bóng mát. Tôi không nhớ rõ lắm, nhưng chỉ một thời gian ngắn thì “Tây trở lại”, thỉnh thoảng ban ngày, có những cuộc bố ráp, có anh Hương Quản đi cùng, có khi lính “lê dương” chỉ xét hỏi, có khi chúng bắt đem về chỗ tập trung, rồi cũng thả.

Cờ Thanh Niên Tiền Phong

Thời nầy, ban ngày thuộc Pháp, nhưng ban đêm thuộc về cách mạng, nhưng ngày đó gọi là Việt Minh. Mặc dù ban ngày trên lộ đá có xe than chạy, dưới sông có tàu đốt than chạy, tàu dòng theo những chiếc ghe chài, thành một dòng khá dài chừng 2, 3 chục chiếc ghe. Trên sông, những “thây ma” trôi lình bình, tha hồ cho tôm, tép, cá rĩa ăn. Do đó có danh từ “mò tôm”, để chỉ cho những người bị thủ tiêu, vì thù oán, vì chánh kiến bị giết chết, rồi bỏ trôi sông. Do đó, nguồn nước uống bị ô nhiễm, muốn uống nước sông, người ta phải đun sôi.

Trong lúc xã hội bất an, nhân tâm ly tán, mạng người sống chết rẻ như bèo. Người dân chỉ còn biết dựa vào niềm tin, để trấn an sự sợ hãi. Lúc đó đạo Phật do Huỳnh Phú Sổ truyền bá ở miền Tây ngày càng lan rộng.

Huỳnh Phú Sổ là con trai của ông Huỳnh Công Bộ, một vị Hương Cả ở làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Huỳnh Phú Sổ khai sáng đạo từ ngày 18 tháng Năm năm Kỷ Mão (ngày 4-7-1939), khuyên tín đồ ăn chay, niệm Phật, làm lành, lánh dữ. Huỳnh Phú Sổ xiển đương đạo Phật tại làng Hòa Hảo nên được gọi là Phật Giáo Hòa Hảo. Tôn chỉ là niệm Phật, chẳng khác với Tông Tịnh độ. Tín đồ tôn xưng là Huỳnh giáo chủ

Do Huỳnh Phú Sổ thực hành tu pháp tu giống như Đức Phật Thầy Tây An, cho nên nhiều tín đồ PGHH tin rằng Huỳnh giáo chủ là hậu thân của Đức Phật Thầy Tây An.

Thời gian hành đạo, Huỳnh giáo chủ đi khắp miền Hậu Giang giảng đạo, tín đồ đi nghe giảng đông hàng nghìn, cho nên thường tổ chức nơi công cộng như ở nhà lồng chợ hay nhà Tín đồ có sân rộng, thực dân Pháp sợ ảnh hưởng của Ngài, năm 1940, đem an trí Ngài trong nhà thương Chợ Quán, giữa năm 1941 đưa Ngài đi biệt xứ ở Bạc Liêu, đến cuối năm 1942 lại đưa Ngài trở về Saigon. Vào ngày 21-9-1946, Ngài lập đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội, gọi tắt là Việt Nam Dân Xã Ðảng. Ngài tham gia Uỷ ban Hành Chánh Nam Bộ, vào mật khu ở Miền Ðông với lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn.

Ngày 16 tháng 4 năm 1947, Huỳnh Phú Sổ đến Đồng Tháp Mười để hòa giải sự xung đột giữa Việt Minh và Phật giáo Hòa Hảo, do Bửu Vinh mời, họp tại làng Tân Phú, Ðốc Vàng, tỉnh Long Xuyên, ngay trong phiên họp, họ đã tắt đèn và nổ súng, cận vệ của Ngài chạy thoát về báo lại, ngay đêm đó, có thủ bút của Ngài viết, gửi cho các Tư lệnh Lực lượng PGHH như sau:

Ông Trần Văn Soái và Ông Nguyển Giác Ngộ;

Tôi vừa hội hiệp với ông Bửu Vĩnh, bỗng có sự biến cố xảy ra, tôi và ông Vĩnh xuýt chết, chưa rõ nguyên nhân, còn điều tra, trong mấy anh em phòng vệ không biét chết hay chạy đi, nếu có ai về báo cáo rằng tôi bị bắt hay mưu sát thì các ông đừng náo động.

Cấm chỉ đồn đãi, cấm chỉ kéo quân đi tiếp cứu, hảy đóng quân y tại chỗ.

Sáng ngày, tôi sẽ cùng ông Bửu Vĩnh điều tra kỹ lưỡng rồi sẽ về sau.

Phải triệt để tuân lịnh.

Ngày 16-4-1947 : 9 giờ 15 đêm

Ký tên: S

Từ đó người ta không có tin tức về Ngài, có lẽ Việt Minh đã hảm hại Ngài sau khi đã viết lá thư đêm đó. Ngài mới có 27 tuổi. Ngài chẳng những là một vị giáo chủ PGHH mà còn là một lãnh tụ quốc gia chân chính, tiến bộ, nhiệt tâm yêu nước.

Theo tài liệu của Tây phương và Việt Nam Cộng Hòa thì giáo chủ Huỳnh Phú Sổ bị Việt Minh thủ tiêu.

Do thời đó quân đội Pháp không đủ lực lượng để giữ an ninh, trộm cướp xãy ra thường xuyên, nên giáo phái Hòa Hảo có lực lượng vũ trang, để gìn giữ an ninh trong làng xóm. Ở Cái Vồn, Cần Thơ có lực lượng Hòa Hảo của Trần Văn Soái; ở Ô Môn, Cần Thơ có lực lượng Lê Quang Vinh tức Ba Cụt; ở Chợ Mới, Long Xuyên có lực lượng Nguyễn Giác Ngộ; ở Cái Dầu, Châu Đốc có lực lượng Lâm Thành Nguyên tức Hai Ngoán. Sau khi Hu ỳnh giáo chủ mất tích các lực lượng nầy cộng tác với nhà cầm quyền Pháp, cho đến khi Ngô Đình Diệm Chấp chánh, chánh phủ Việt Nam dẹp các lực lượng vũ trang, trước tiên là Bình Xuyên tại Sàigòn, kế đó các lực lượng vũ trang Cao Đài, Hòa Hảo đều trở về hợp tác với chánh phủ, trừ có lực lượng Lê Quang Vinh, sau ông bị bắt tại Chắc Cà Đao (Bình Hòa), Long Xuyên, ngày 13-4-1956, bị đưa ra tòa Đại hình ngày 11-6-1956, tòa Thượng thẩm Đại hình ngày 26-6-1956, ra tòa án quân sự ngày 3-7-1956, cả 3 tòa đều kết án tử hình, án lệnh được thi hành ngày 13-7-1956 bằng máy chém Gouillotine của Pháp, do Đội Phước thi hành.

Trước năm 1950, do trường làng không có thầy giáo, nên tôi phải sang sông học trường làng bên đó, cũng chỉ học được vài tháng rồi thầy giáo đóng cửa Trường. Sau đó tôi học tư, tại ngôi trường làng, từ ngôi Trường nầy, tôi xuống tỉnh Long Xuyên thi đậu bằng Sơ Đẳng Tiểu Học.
Năm sau cùng của chánh thể Quốc Gia Việt Nam 1954. tôi được đi học lại, ngồi lớp Nhì Trường nam Tiểu học Châu Đốc. Thời đó trường làng chỉ dạy tới lớp Ba, trường tỉnh hay quận lỵ mới có lớp nhì, lớp nhất. Ngay tỉnh lỵ Châu Đốc chỉ có Trường Trung học Đệ Nhất Cấp, dạy tới lớp Đệ Tứ, thi Trung học Đệ Nhứt Cấp mà thôi.

Tôi còn nhớ, những ngày đầu tôi lên Châu Đốc, quân đội Pháp còn đồn trú trong một cơ sở cạnh Bưu Điện, họ chỉ ở trong trại lính đó mà thôi. Hè năm 1956, tôi được đi dự trại Hè tại Vũng Tàu, xe chạy ngang qua sân bay Vũng Tàu, thấy phi cơ, xe nhà binh và quân nhân Pháp vẫn còn sinh hoạt ở đó. Đây là điểm cuối cùng quân đội Pháp tập trung để rút quân về nước, thi hành theo Hiệp định Genèvre 1954.

Ngày 23-10-1955, có cuộc Trưng cầu dân ý, truất phế quốc trưởng Bảo Đại, đến ngày 26-10-1955 miền Nam thiết lập thể chế Việt Nam Cộng Hòa, cho đến 30-4-1975 trong 20 năm đó, tôi đã sống và trải qua những ngày tốt đẹp nhất cuộc đời mình.

Tôi được miễn thi Tiểu học, thi đậu vào Trung học Thủ Khoa Nghĩa Châu Đốc, Trung học Kỹ thuật Cao Thắng, tôi được chú tôi cho lên Sàigòn theo học tại Trường Cao Thắng.
Sau khi lấy được Tú Tài toàn phần kỹ thuật, tôi thi đỗ vào Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật, trong thời gian học tại đây từ năm 1964-1966, tôi cũng ghi tên theo học Phân Khoa Văn học và Khoa học Nhân Văn thuộc Viện Đại Học Vạn Hạnh vừa mới thành lập, tôi đã tham gia thành lập Tổng hội Sinh Viên Vạn Hạnh. Niên khóa 1964-1965, tôi giữ chức Phó Chủ tịch Nội Vụ, vì Chủ tịch bị truất phế nên tôi Xử lý Thường vụ Chủ tịch, Niên khóa sau, tôi giữ chức Phó Chủ tịch Ngoại vụ, trong Ban Chấp Hành, Giáo sư Khoa học Đại học đường Cao Ngọc Phượng là Chủ tịch, anh Đỗ Văn Khôn là Tổng Thư Ký, chị Nhất Chi Mai là Thủ quỹ.
Thời gian nầy là thời gian người ta dễ dấn thân vào con đường chính trị, tôi đã được tòa Đại sứ Mỹ vài lần mời tới dự những buổi tiếp tân của họ, nhưng tôi né tránh, cũng có người rủ tôi vào trong bưng để ra Bắc, sau đó sẽ được du học ở Liên Xô, nghe thấy viễn ảnh tốt đẹp, nhưng tôi từ chối.

Sau khi ra Trường CĐSPKT, tôi chọn nhiệm sở Banmêthuộc, đây là Trường Kỹ Thuật do viện trợ Mỹ đài thọ, để đào tạo thợ cho các dân tộc thiểu số như người Chăm ở Ninh Thuận, người Thái ở Tùng Nghĩa, Đà Lạt và ở làng Hòa Bình Banmêthuộc và những sắc dân Thượng như Radhé, Koho, Stieng… ở Banmêthuột, Gia Lai, Kontum, Pleiku …. Cho đến nay tôi vẫn còn thớ tới những em học sinh như Não Minh Tròn, Linh Ký Nam, Y Tlung, Thạch Văn Mè …

Trường là lớp học nghề thời Pháp, nằm trong khu vực Trường Tiểu học Tỉnh lỵ, được viện trợ Mỹ xây cất, với sức chứa 200 học sinh nội trú, gồm có một Đại sảnh đường, thông với 3 lớp học, một Giảng đường có sân khấu, một Thư viện, một phòng y tế, các phòng hành chánh và một dãi ký túc xá, tầng trệt có nhà bếp, nhà ăn, nhà vệ sinh; tầng trên có phòng ngủ tập thể, có phòng tắm; tầng trên cùng chỉ có một khoảng ngắn thiết kế 3 phòng, gồm một phòng rời, hai phòng liên kết, ở giữa phòng rời và hai phòng liên kết có cầu thang và nhà tắm nhà vệ sinh chung.
Thời gian tôi sống ở Banmêthuột từ năm 1966-1970, nơi đây có Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23, có kho đạn, nhưng không an ninh, do đó tôi chỉ đi loanh quanh trong Thị xã, như đi chợ, đi chùa Khải Đoan, có lần đi cắm trại với vài em học sinh ở khu Lâm viên quốc gia, là nơi trồng những cây sao, cây giá tị gần phi trường Phụng Dục. Có lần đi vào đồn điền của gia đình em Trí hay đến nhà Linh Ký Nam chơi rồi đi tìm “cà-phê cức chồn”. Có lần được trực thăng đưa đi giữ thùng phiếu đặt trong khu vực Nhà máy điện, nơi đây có 3 turbine của Pháp chạy bằng thác nước, đủ cung cấp điện cho thành phố Banmêthuột thời bấy giờ.

Tháng Giêng năm 1968, tôi bị động viên đi khóa 27 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Những ngày nằm chờ ở Trung Tâm 3 Nhập ngũ Hóc Môn, hình ảnh khó phai là vào buổi trưa khó ngủ, Trịnh Công Sơn gầy gò ngồi trên chiếc chiếu, trải trên đường nhựa, dưới tàn cây bả đậu, ôm cây đàn guitar miệng hát nghêu ngao những bài của anh ta sáng tác, sau nầy gọi là dòng nhạc phản chiến, chỉ có đôi ba người ngồi nghe. Rồi vào buổi trưa ngày 12-1-1968, xe đưa đến quân trường Thủ Đức, nhận quân trang, mặc quân phục vào, phút chốc trở thành người lính chiến, ngày học đêm canh gác nghiêm nhặt vì trận chiến Mậu Thân. Việt cộng không tôn trọng đình chiến, muốn dùng yếu tố bất ngờ để chiến thắng miền Nam. Khóa đó học đến tháng 8 ra trường với cấp bậc Chuẩn Úy, ngay sau đó có xe của Trường Quân Cụ rước về Trường ở Gò Vấp, theo học khóa Sĩ Quan Quân Cụ Cơ Bản, rồi tiếp theo Khóa Cơ Khí Ô Tô, một số học về Đạn Dược.

Ra Trường tháng 4 năm 1969, tôi được phân bổ về Vùng IV, sau đó được phân bổ về Đại Đội Quân Cụ thuộc Sư Đoàn 21, sau đó quân đội cải tổ thành lập Tiểu Đoàn Tiếp Vận, Đại Đội Quân Cụ trở thành Đại Đội Bảo Toàn, trong Đại Đội nầy có các Trung Đội Hậu Cứ, Trung Đội Sửa Chữa, Trung đội Quân Nhu, Quân Vận, Truyền Tin. To6i được phân bổ làm Trung Đội Trưởng đóng quân tại Thị xã Cà Mau, nằm trên sân Tennis trước Ty Tiểu học, cạnh Trung Đoàn 32.

Sau 1 tháng ở Cà Mau, tôi được thuyên chuyển về làm Trung đội Trưởng Hậu Cứ, đồn trú ngay trong Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, nằm ở ngoại ô trên đường giữa Đài Phát Thanh Sóc Trăng và Thị xã, cách Chùa Dơi không xa.

Đầu tháng 9 tôi được biệt phái về Trường cũ, tôi được đơn vị trưởng giữ lại 10 ngày để vui chơi với bạn bè, sau đó được về Sàigòn hưởng phép 10 ngày nữa, rồi mới trở lại Trường Kỹ thuật Banmêthuột.

Trở về Trường cũ, tôi được đề cử giữ chức Phụ tá Học Vụ và Học Sinh Vụ đây là chức vụ của Trường Kỹ thuật Đệ Nhất Cấp, nó gồm có công việc của Giám học là phân bổ giờ dạy của giáo sư, theo dõi sự giảng dạy của các giáo sư ở lớp học; trông nom và điều hành học sinh về kỷ luật về sự học tập của các em. Điều hành các xưởng và trông nom việc học ở Xưởng do Phụ tá Kỹ thuật trách nhiệm.

Tháng 10 năm 1970, tôi được thuyên chuyển về Trung học Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ Sàigòn.
Trung học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ Sàigòn có một lịch sử lâu đời nhất trong số các Trường kỹ thuật ở Việt Nam, do ngày trước quân đội Pháp sang Việt Nam bằng tàu thủy, đánh Đà Nẵng, Gia Định năm 1859 bằng tàu thủy, từ khi lấy 3 tỉnh miền Đông làm thuộc địa, họ đã thành lập cơ xưởng để sửa chữa tàu, rồi mở lớp đào tạo thợ tại địa chỉ 25 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 1, Tp. HCM. Để mở rộng trường, một cơ sở mới được dựng lên, là chi nhánh, sau trở thành Trường Cơ khí Á Châu, nay là Trung học kỹ thuật Cao Thắng.

Tại địa chỉ 25 Nguyễn Thị Minh Khai đến năm 1945 bị quân đội Nhật Bản chiếm đóng, sau đó quân đội Pháp tiếp thu, chia ra làm 2 phần, một phần giữ làm cơ quan Cảnh sát Quận 1, phần còn lại trả cho trường có địa chỉ 25 bis Nguyễn Thị Minh Khai. Sau Tết Mậu Thân, Trường bị Tòa Đại Sứ Mỹ lấy vì vấn đề an ninh, đền cho Trường cơ sở Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ Đức. Trong khi chờ đợi xây cất cơ sở mới, Trường dời tạm về khuôn viên Nha Kỹ Thuật Học vụ. Đến năm 1972 việc xây cất hoàn thành, trường tiếp nhận cơ sở mới, nhưng sau đó nhường hẳn cơ sở nầy cho Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật, Trường ở luôn tại khuôn viên Nha Kỹ Thuật với địa chỉ 55C Tự Đức, Quận 1, Tp. HCM.

Tôi về đây dạy học và tiếp tục học trở lại ở Đại học Vạn Hạnh. Năm 1973, tôi tốt nghiệp Cử nhân Văn học Việt Nam, năm sau lấy chứng chỉ Cao học I VHVN. Được Bộ Văn hóa Giáo dục bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng trường nầy. Trường Trung học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ là Trung học Kỹ thuật Đệ nhị cấp, Giáo sư và nhân viên của Trường tổng cộng khoảng 80 người. Học sinh từ lớp 8 cho đến lớp Đệ nhị gồm 16 lớp, có khoảng 600 học sinh. Trường có 1 Thư viện, 2 văn phòng, 9 phòng học, 6 xưởng dạy nghề gồm có: Nguội, Máy dụng cụ, Cơ khí Ô tô, Kỹ nghệ Sắt, Kỹ nghệ Gỗ, Điện.

Gần đây có thì giờ nhìn lại, tôi thấy mình chỉ làm tròn nhiệm vụ của một người thầy giáo và hiệu trưởng chuyên nghiệp, chớ chưa làm tốt trong nhiệm vụ của mình, do tuy đã xuất thân từ trường Sư phạm, nhưng nơi đó người ta không trao truyền kinh nghiệm của nhà giáo, cũng không dạy về chức trách của một người Hiệu trưởng đối với Giáo sư, nhân viên và học sinh.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chấm dứt thể chế Cộng hòa ở miền Nam. Cộng sản đã chiếm cả miền Nam, họ dẫm lên Hiệp định Paris ký kết vào tháng Giêng năm 1973. Việt Nam Cộng Hòa đã bị khai tử sau khi nó sống gần trọn vẹn 20 năm ở miền Nam, đem lại cho người miền Nam hiểu thế nào là TỰ DO.

Từ khi còn là học sinh cho đến khi đi dạy học và là sĩ quan, tôi được đi và sống ở những nơi như Vũng Tàu, Lộc Ninh, Banmêthuộc, Huế, Bến Tre, Sóc Trăng, Cà Mau. Mặc dù tôi sinh trong tỉnh Long Xuyên, thi Sơ học ở Long Xuyên, nhưng tôi không có học ở trường tỉnh Long Xuyên ngày nào. Tôi có đi tắm ở bãi biển Thuân An, có tham quan cầu Hiền Lương, nơi chia đôi Nam Bắc.

Khi Cộng sản chiếm miền Nam, tôi vào tuổi “Tam thập nhi lập”, vậy mà tôi đã bị đi “học tập cải tạo” trong “Mười ngày” ở Trãng Lớn và rừng Kà-tum thuộc tỉnh Tây Ninh. Vào trong trại cải tạo, đọc bảng biểu ngữ “Không có gì quí hơn Độc Lập, Tự do”, mới thấm thía ý nghĩ tự do.

Trong trại, anh em kể cho nhau nghe một ông tướng của Trung Hoa Dân Quốc bị đi học tập từ năm 1949 đến nay chưa về, nhiều hạ sĩ quan quân đội Pháp bị quản chế từ năm 1954 đến nay chưa được quyền công dân và anh em nhắn nhủ nhau, khi nào “học tập tốt được cho về”, cố gắng bám lấy Sàigòn mà sống, vì dù sao nơi đó cũng là nơi tai mắt quốc tế, nhà cầm quyền cộng sản sẽ phải nương tay. Nhận định đó cho đến nay vẫn đúng. Các Tổng Thống Mỹ Bill Clinton, Barack Obama, Tổng Thống Pháp Francois Hollande, đến Việt Nam sau khi ghé thủ đô Hà Nội, họ vào Sàigòn thăm viếng thành phố nầy, vì Sàigòn đã dược mệnh danh là hòn ngọc Viễn Đông, còn thành phố Hồ Chí Minh chưa nghe nói tới.

Sau hơn 2 năm học tập cải tạo, tôi được tạm tha “hồi hương lập nghiệp” ở xã Phú Hòa huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang. Mặc dù tôi sinh ra ở nhà quê, nhưng tôi chưa hề chăn bò, cày sâu, cuốc bẳm, về quê sinh sống bằng cách nào ? Còn vợ, còn con. Do đó tôi tìm cách để ở lại Sàigòn. Nhạc gia tôi, “nhứt thân nhì thế” đã tìm cho tôi một chỗ làm nơi Sở Lao Động thành phố, năm sau tôi bị chuyển tới một cơ quan thuộc Sở Công nghiệp, nơi đây lại đưa tôi về trường cũ một thời gian. Tại trường cũ nhưng môi trường đã khác, người thầy giáo dạy để kiếm sống, trong thời bao cấp “củi quế, gạo châu”. Nhớ có lần về quê, khi trở lên Sàigòn, tôi mang theo 2 bao cát đựng gạo, lúc xe đi ngang qua trạm “Tân Hương” ở địa phận Tân An, đã bị họ tịch thâu, trong khi trên mui xe chất đầy những bao đựng gạo 50 kg. Con voi chui qua lỗ kim lọt, nhưng sợi tóc thì không !

Thời gian nầy, tôi thiết kế nhà máy đường công suất nhỏ, rồi làm Trưởng phòng Kinh tế Kế hoạch cho Công ty, tôi đã đi giao dịch với những nơi để lắp đặt nhà máy đường như Tây Ninh, Long Phú thuộc Sóc Trăng, Chợ Mới tỉnh An Giang, Long Toàn thuộc Trà Vinh, Mỹ An Hưng huyện Lấp Vò, Ngã Sáu thuộc huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Hóc Môn. Nhà máy giấy ở Kiên Giang, ở Nam Vang. Nhà máy bột khoai mì ở Tịnh Biên, nhà máy ép dầu dừa ở Bến Tre. Có những chuyến đi cuốc bộ khoảng chục cây số vào ban đêm, ngủ bờ ngủ bụi khi làm việc với những huyệp Lấp Vò, Tháp Mười, Long Phú.

Có thời gian tôi đi dạy ở Đại học Sư Phạm Kỹ thuật Thử Đức, nhưng vừa dạy vừa đi làm ở tỉnh, đi lại bất tiện, tuy có giấy giới thiệu nhưng cũng phải xếp hàng rồng rắn, mất rất nhiều thì giờ, do đó tôi bỏ dạy, để chuyên trông nom việc lắp đặt máy ép dầu ở xí nghiệp 1 tháng 5 Bến Tre.
Đầu tháng 4 năm 1991, tôi rời khỏi Việt Nam, đáp máy bay Hàng không Việt Nam sang Bangkok, vào nhà tù của Bộ Nội Vụ Thái Lan ở 1 tuần, mỗi ngày ăn cơm trắng với 3 cái hột gà cho sáng, trưa, chiều.

Ngày 9-4-1991, gia đình tôi đặt chân trên đất Mỹ tại phi trường Seattle, Washington State, ngủ đêm đầu tiên ở khách sạn Holiday Inn tại Minneapolis, Minnesota, hôm sau đáp chuyến bay tới phi trường Saint-Louis, Missouri rồi chuyển qua phi cơ nhỏ về Louisville, Kentucky.

Tôi đã định cư tại đây từ đó tới giờ. Đi làm nhiều công ty khác nhau, có công ty làm về thức ăn, có công ty làm về thiết bị. Có thời gian, tôi đi học ở College, đồng thời đi dạy học, có thời gian ngồi ở văn phòng, sử dụng computer để thiết kế những cơ phận, những thiết bị cho ngành hỏa xa.

Năm 1991, trong thời gian làm việc ở trường học, tôi được cho đi học một khóa sử dụng computer khoảng 20 giờ, sau đó tôi tự học để làm báo, làm Web. Được vài anh em trẻ giúp đỡ, từ năm 1995, tôi đã chủ trương làm báo Phật Học biếu cho những ai cần đọc, đến 2009 báo Phật Học không còn in ra giấy, nhưng vẫn còn phổ biến hàng tháng trên Mạng, dưới sự chủ trương của Phật Học có ấn tống được 5 quyển sách, có vài độc giả ở trong tù gửi thư xin báo, chúng tôi gửi hàng tháng cho họ từ nhà tù nầy sang nhà tù khác.

Năm 1975, chú tôi dạy tôi rằng, cuộc chiến vừa qua “Bất chiến tự nhiên thành”, nhưng sẽ còn một lần nữa cũng “Bất chiến tự nhiên thành”.

Tôi đã được sống, những ngày còn thơ ấu dưới thời Tây cai trị nước ta, thời Việt Minh cướp chánh quyền, giặc giả loạn lạc tứ tung, gạo không xuất cảng được, ruộng đồng bỏ hoang hóa, hàng hóa không nhập được, không có vải vóc may quần áo, người có của may mặc vải ta, người nghèo khó phải mặc bao bố, cho nên sau khi “giải phóng miền Nam”, khỏi sự kềm kẹp và bóc lột của Mỹ nguỵ, dân miền Nam được ăn “cao lương” được mặc vải phiếu, còn có cái ăn, cái mặc hơn là chết đói hang triệu người ở miền Bắc và mặc bao bố ở miền Nam năm 1945.

Ở Mỹ không phải là thiên đường, tôi phải đi làm 14 năm, rồi về hưu, nay sống bằng đồng lương hưu. Ở Việt Nam trước 1975, tôi đi làm 9 năm cho chánh quyền, sau 1975 tôi làm 13 năm, nay không có đồng xu ten nào cả ! Tôi nói nước Mỹ không phải là thiên đường, vì có rất nhiều người “homeless”, tức nhiên là họ không có nơi ăn chốn ở, có người đứng ở đầu đường, xó chợ xin ăn. Họ không gặp Cảnh sát, nếu gặp Cảnh Sát sẽ hốt họ liền, vì không được phép xin ăn, muốn xin tiền, gây quỹ phải có phép của nhà chức trách. Bên cạnh đó, có nhiều hội từ thiện, xin tiền của những nhà hảo tâm, cung cấp những phần ăn cho người “vô gia cư”, nghèo khó, già cả, neo đơn.

Nhìn lại những năm 1945 và 1975, dĩ nhiên là không giống nhau. Sau 1945, người dân ban đêm sợ bị trộm cướp bị bắt cho đi mò tôm, còn 1975 người ta không sợ cho tánh mạng của mình, nhưng cái ăn luôn luôn bị thiếu thốn, người dân phải lo ăn, có người cho rằng nhà cầm quyền dùng chánh sách bao tử để điều khiển người dân, không biết đúng hay sai, nhưng ngày nay hình như tham nhũng là kế sách để mọi người phải bảo vệ quyền lợi của mình, tức là bảo vệ tập thể. Đó là kế sách hay nhất, hữu hiệu nhất. Nhưng một định luật bất biến, bất cứ cái chi khi nó lên đến tột đỉnh, đương nhiên nó sẽ tuột xuống.

 

 

Tin hay trên BBC 27 tháng 9 2016

Bầu cử Mỹ: Thắng-thua sau vòng đầu tranh luận
Anthony Zurcher Phóng viên chuyên về vùng Bắc Mỹ

 

 

Tảng băng nổi (tham khảo)

Tảng băng nổi (Huy Đức)
Cùng với các tổn thất ở những dự án “hợp tác quốc tế” khác như Peru-67; SK-305; SK-304, PVN đã ném xuống đại dương không dưới 2,1 tỷ USD. Tất nhiên, trách nhiệm không chỉ một mình Đinh La Thăng. Nhưng nếu không xử lý ông Thăng thì bao nhiêu tuyên bố về chống tham nhũng cũng trở nên sáo rỗng.

TẢNG BĂNG NỔI (Huy Đức)

Hôm qua, khi Phó thủ tướng Trương Hòa Bình yêu cầu phải tìm cho ra những “tảng băng chìm” tham nhũng, ông đang ngồi cạnh “tảng băng nổi khổng lồ” Đinh La Thăng. Nếu “không đủ chứng cứ” về những khoản “chênh lệch lãi suất” và phần “lại quả 1%” trong vụ PVN góp vốn vào Ocean Bank, chỉ tính 800 tỷ PVN chịu mất đứt cho “Thắm Đại Dương” đã có “hậu quả nghiêm trọng” đủ để truy cứu trách nhiệm Đinh La Thăng. Tất nhiên, ở PVN thời Đinh La Thăng còn nhiều “tảng băng” rất to, đủ sức làm đắm nhiều Titanic.
 
Lại “Nội Lực”
 
Năm 2007, Trung Quốc gây áp lực buộc BP phải từ bỏ hai mỏ khí Hải Thạch & Mộc Tinh nằm trong vùng biển Trường Sa của Việt Nam (cách bờ 370 km). PVN đã được giao tiếp quản lại hai mỏ khí này. Đây không chỉ là một cơ hội kinh tế cho PVN mà còn có một vai trò to lớn về chủ quyền cho đất nước.
 
 
Công ty Điều hành Dầu khí Biển Đông (POC) được thành lập.
 
Để mang được khí vào bờ, POC phải lắp đặt một đường ống dẫn khí. Trong số các phần việc quan trọng, có gói thầu cung cấp khoảng 22 km đường ống bọc hai lớp. Ngày 9-4-2010, khi đóng thầu, Chủ đầu tư (PTSC-MC là công ty được ủy quyền) nhận được hồ sơ chào thầu từ Marubeni (Nhật) và POTS (công ty Thương mại và Dịch vụ dầu khí Biển – thuộc PVN).
 
Chỉ có Marubeni đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
 
Biết mình bị loại, ngày 25-5-2010, POTS gửi công văn lên Tập đoàn đề nghị tái xem xét.
 
Vì đây là gói thầu có yêu cầu công nghệ cao chứ không phải thứ “cây nhà lá vườn”, nhằm ngăn chặn sự can thiệp từ Đinh La Thăng, ngày 7-6-2010, PTSC-MC đã phải báo cáo lên lãnh đạo Tập đoàn khẳng định, “Marubeni là nhà thầu duy nhất đạt kỹ thuật”.
 
Thế nhưng vào ngày 11-6, PTSC-MC vẫn bị buộc phải lập một tổ thẩm định khác, đánh giá lại, rồi công nhận “cả hai nhà thầu đều đạt về kỹ thuật”.
 
Ngày 22-7-2010, Đinh La Thăng phê duyệt việc trao gói thầu cho POTS vì lý do POTS đưa ra giá thấp hơn (40,8 triệu so với 49,8 triệu USD của Marubeni).
 
Không phải tự nhiên, Đinh La Thăng gây sức ép loại “nhà thầu duy nhất đạt kỹ thuật”. Nhân danh “phát huy nội lực, ưu tiên sử dụng dịch vụ trong ngành”, khi chưa có quyết định giao thầu (5-2010) Đinh La Thăng đã yêu cầu POC “giao dịch vụ bọc ống cho PVID” – một công ty thuộc PVGas được “đẻ ra” dưới thời Đinh La Thăng. PVID sau đó được chỉ định thầu phần bọc ống, “bóc” ra từ gói thầu của POTS.
 
Ngay từ khi dự thầu, nội lực mà POTS thể hiện chỉ là như vai trò một anh “cò”. Gói thầu được POTS chia đôi cho Canadoil tại Thái Lan (phần chế tạo ống) và Bredo Shaw tại Malaysia (phần bọc ống). Nhưng do phải nhường phần bọc ống cho PVID nên công việc chưa bắt đầu, POTS đã phải mất thời gian đàm phán để loại Bredo Shaw ra khỏi cuộc chơi.
 
Canadoil cũng chỉ là một nhà thầu liều mạng. Nhận một gói thầu trị giá hàng chục triệu đô là để làm ống mà vừa thiếu thép tấm, thiếu máy hàn, thiếu cả nhân công có tay nghề… Vì sốt ruột, Chủ đầu tư (PTSC MC) đã nhiều lần phải đưa nhân công sang Thái Lan hỗ trợ.
 
Thế nhưng thời hạn giao ống vẫn liên tục bị Canadoil trì hoãn. Mặc dù được Đinh La Thăng đầu tư thêm 1,1 triệu để lắp đặt “dây chuyền bọc ống”, PVID vẫn không thể nào thực hiện đúng hợp đồng, buộc PTSC MC phải mang gần một nửa ống mà Canadoil sản xuất đưa sang Malaysia nhờ bọc.
 
Không phải tự nhiên ngay từ đầu Chủ đầu tư đã khẳng định “Marubeni là nhà thầu duy nhất đạt yêu cầu kỹ thuật”. Đối với những gói thầu đòi hỏi công nghệ cao thì giá chưa phải là yếu tố quyết định.
 
Chủ trương “nhà làm được” của Đinh La Thăng khi chọn POTS để “tiết kiệm 9 triệu USD” chênh lệch giá với Marubeni, kết cục đã làm phát sinh giá thành của gói thầu này thêm 11 triệu, cao hơn giá bỏ thầu của Marubeni 1 triệu USD (PVN phải bỏ thêm 1,1 triệu đầu tư dây chuyền bọc ống cho PVID và các nhà thầu phụ đòi phát sinh thêm 5,44 triệu USD – riêng Canadoil đòi phát sinh 3,6 triệu USD, cùng với chi phí PTSC-MC đưa nhân công sang Thái).
 
Con số phát sinh không dừng lại ở mức gần 11 triệu USD. Sự can thiệp của Đinh La Thăng, buộc POTS phải chọn những nhà thầu kém năng lực, thiếu uy tín, đã làm cho việc giao ống bị chậm 10 tháng; ngày giao khí đầu tiên lẽ ra phải là 31-12-2012 đã bị chậm mất gần 6 tháng (tới 28-6-2013). Sự chậm trễ này đã buộc POC phải phá vỡ hợp đồng với các nhà thầu khác, khiến cho chi phí phát sinh thêm những khoản rất lớn.
 
Tàu Seamac được thuê để rải ống vào năm 2012 bị chuyển sang 2013 khiến cho POC phải bồi thường 25,7 triệu USD. Các phương tiện lắp ống phải chờ ngoài biển trong giai đoạn rủi ro thời tiết buộc POC phải bồi thường 8 triệu. Phát sinh chi phí quản lý và thuê kho chứa khí thêm gần 5 triệu USD; Mất doanh thu do chậm đưa khí vào bờ gần 6 tháng (28-6-2013 thay vì 31-12-2012) lên đến gần 38 triệu USD (270 nghìn USD/ngày).
 
PTSC-MC không thể buộc POTS hay Canadoil bồi thường vì ngay từ đầu hợp đồng đã bị vỡ do Đinh La Thăng đưa PVID chen ngang vào. Chỉ vì nhân danh “phát huy nội lực” cho vài công ty con mà Đinh La Thăng đã làm tổn thất gần 90 triệu USD cho Dự án Biển Đông I.
 
Venezuela & 2 tỷ USD
 
Chưa tới một năm sau khi PDV- 39 “chọc mũi khoan đầu tiên”, tháng 4-2013, PVN đã phải đầu hàng trước Venezuela, bỏ lại nơi đây dự án Junin-2.
 
Trở lại hơn 6 năm trước đó, ít ai biết vai trò kiến tạo mối quan hệ khăng khít giữa Việt Nam với Venezuela không phải nhờ vào thành tích của ngành ngoại giao mà phần lớn nhờ vào Đinh La Thăng.
Đánh đúng “khẩu vị” của không ít nhà lãnh đạo khoái một Hugo Chavez vừa chống Mỹ vừa thân với “người bạn gác” thành trì xã hội chủ nghĩa ở bên kia bán cầu. Đinh La Thăng đã tạo ra “một mốc son trong mối quan hệ quan hệ hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Venezuela” sau chuyến thăm Việt Nam của Hugo Chavez vào năm 2006 bằng cách bằng mọi giá liên doanh với một đơn vị của Công ty Dầu quốc gia Venezuela, “Khai thác và Nâng cấp dầu nặng ở lô Junin-2”.
 
Để thuyết phục Chính phủ cho phép PVN bỏ 1,8 tỷ USD sang Venezuela, Đinh La Thăng đã đưa ra đánh giá: “Junin-2 là mỏ có trữ lượng dầu lớn nhất trong vành đai dầu mỏ khí đốt Oricono – vành đai có trữ lượng lớn thứ nhì thế giới. Việc khai thác dầu tại lô Junin-2 sẽ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng cho Việt Nam ít nhất trong 25 năm nữa”.
 
Chiều ngày 19-4-2012, tại Venezuela, khi khởi động giàn khoan PDV-39, PVN còn cứng cỏi tuyên bố: “Sang năm, Junin 2 sẽ cho sản lượng khoảng 200.000 thùng/ngày”. Nhưng, vừa đúng “sang năm”, khi Đinh La Thăng đang lo “trảm tướng” bên ngành giao thông, những người kế nhiệm Thăng ở PVN tái mặt khi lượng dầu khai thác được, cả sản lượng và chất lượng, không đạt giá trị thương mại. Họ đã có một quyết định dũng cảm là gần như “bỏ chạy”.
 
Trong hợp đồng mà Đinh La Thăng cho ký với Venezuela vào ngày 29-6-2010 có một điều kiện rất “quái gở” là 6 tháng sau khi ký kết, phía Việt Nam phải bắt đầu “bonus” cho Venezuela khoảng 1 USD trên một thùng dầu (không phải thùng dầu khai thác được mà là thùng dầu trữ lượng theo dự đoán). Ngay trong 2 năm đầu, bất kể có dầu hay không, phía Việt Nam vẫn phải nộp đủ cho Venezuela 584 triệu USD bằng tiền mặt.
 
Trước ngày 12-5-2011, trong khi Liên doanh chưa hoàn thành thủ tục đăng ký với cơ quan chức năng Venezuela, 300 triệu USD tiền mặt đã được “bonus” cho đối tác; Đúng một năm sau, 142 triệu USD khác cũng đã được thanh toán(12-5-2-12)[tổng cộng 442 triệu USD chưa kể hàng trăm triệu đã đầu tư vào công tác thăm dò, khai thác].
 
Tháng 4-2013, PVN (đại diện trực tiếp là PVEP) đứng trước lựa chọn khó khăn khi tới hạn nộp tiếp 142 triệu USD tiền mặt trong khi lượng dầu ở mỏ Junin-2 hoàn toàn “không như dự đoán”.
 
Hợp đồng mà Đinh La Thăng ký không chừa cho Việt Nam cửa lùi. Cho dù không kiếm được thùng dầu nào đáng giá, 15 ngày sau thời hạn “bonus”, nếu không nộp đủ tiền, toàn bộ cổ phần của PVN trong liên doanh sẽ tự động chuyển cho đối tác Venezuela. Việt Nam cũng sẽ không được quyền thanh toán hoặc đền bù bất cứ đồng nào từ các khoản đã đóng góp, vay vốn hay đầu tư ở Junin-2.
 
Những người gánh di sản của Đinh la Thăng đã phải cứu 3000 tỷ (142 tiền bonus đóng lần thứ 3), thay vì ném tiếp sang Caracas để nó chết chìm cùng các khoản đã đầu tư vào Junin-2.
 
Cùng với các tổn thất ở những dự án “hợp tác quốc tế” khác như Peru-67; SK-305; SK-304, PVN đã ném xuống đại dương không dưới 2,1 tỷ USD.
 
Tất nhiên, trách nhiệm không chỉ một mình Đinh La Thăng. Nhưng nếu không xử lý ông Thăng thì bao nhiêu tuyên bố về chống tham nhũng cũng trở nên sáo rỗng.
 
PS: Có nhiều người hỏi, khi viết về Đinh La Thăng tôi có sợ không. Tôi trả lời: Sợ. Nhưng tôi có một nỗi sợ lớn hơn, đó là, tôi sợ tương lai đất nước tôi rơi vào tay những kẻ tham lam và bịp bợm.
______________
Nguồn: Thông Luận

Con cái chúng ta vô tội

Con cái chúng ta vô tội

Ảnh của tuankhanh
Chủ Nhật, 09/25/2016

tuankhanh

Tháng 9/2016, có bản tin nhỏ lọt thỏm trong thành phố vốn đã quá nhiều chuyện eo sèo. Bản tin kể về việc một nhóm thầy cô giáo của trường Bành Văn Trân, Tân Bình, tổ chức đấu tố một giáo viên vì dạy thêm ở nhà, theo lệnh của Phòng Giáo dục Quận Tân Bình, Sài Gòn.

Bản tin nhỏ, nhưng phác họa khá rõ về bộ mặt giáo dục của Việt Nam hôm nay. Theo Phòng Giáo dục Quận Tân Bình, thì họ nhận được mật báo của “phụ huynh” nào đó nên đã yêu cầu trường hành động. Cô giáo này đã bị buộc phải hủy lớp dạy luyện thi chứng chỉ ngoại ngữ Cambridge – một chương trình học không dính líu gì đến sách giáo khoa của nhà trường. Cô cũng bị kỷ luật, không được xét thi đua và bị làm nhục bằng cách phải trả lại học phí cho tất cả các học sinh đã đến xin cô giúp dạy thêm.

Đây là một trong những sự kiện mới mẻ về chuyện thầy trò ở Việt Nam. Hình ảnh những người có tri thức, muốn truyền lại cho thế hệ sau theo thể thức truyền thống, bị chính quyền địa phương bị rượt đuổi, chận bắt quả tang, sao mà thật khó tả. Họ bị làm nhục và thậm chí bị phạt tiền như một loại tội đồ bởi thông tư 17 của Bộ Giáo dục Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cuộc đời như một vòng quay của bánh xe, nhưng ở đất nước này, nó là một vòng quay nghiệt ngã nhắc lại rằng sau gần nửa thế kỷ, những người trí thức lại gánh khổ nạn không khác gì những ngày sau tháng 4/1975. Kể từ khi đất nước có một Bộ Giáo dục duy nhất, miền Nam Việt Nam đã từng ngậm ngùi tiễn khoảng 50.000 tiến sĩ, giáo sư, cử nhân, nhà văn, nghệ sĩ… vào các trại tù tập trung cải tạo, trong tổng số hơn 2.500.000 người phải chịu khổ nạn ấy. Mà theo tài liệu của trang VietnamWar, giới trí thức, thầy cô giáo, giáo sư… bị xếp vào loại nguy hiểm bậc 2 và bậc 3, trong số 5 loại cần phải “cải tạo”.

Những đứa trẻ chưa đến 15 tuổi luyện thi chứng chỉ Cambridge, khi biết cô giáo của mình bị trừng phạt vì đã nỗ lực chia sớt kiến thức và kinh nghiệm cho chúng, hãy tự hỏi chúng đang nghĩ gì?

Với những gì đã diễn ra trên đất nước này, lúc trưởng thành, chúng sẽ hiểu rằng mái trường xã hội chủ nghĩa không thơ mộng như những bài văn tả tiếng ve, hay những bài hát mùa hè. Mái trường xã hội chủ nghĩa mà chúng được biết từ sau 1975, được thống nhất bằng phương thức thô lậu: học sinh bị nghi ngờ điều gì đó sẽ bị chuyển cho công an thẩm tra, giam cầm. Thầy cô nếu dám dạy thêm cho chúng theo lời nài nỉ, thì có thể bị làm nhục bởi chính các nhà sư phạm khác.

Con cái chúng ta tội tình gì mà phải chứng kiến hay chịu những điều tổn thương ấy, dưới mái trường xã hội chủ nghĩa ấy?

Định kiến với dạy thêm và những biện pháp thô bỉ phi giáo dục được áp đặt cho những người thầy, người cô đang được coi là giải pháp thông minh của những người có trách nhiệm của ngành giáo dục. Hôm nay, Khổng Tử có mặt ở Việt Nam chắc cũng cùng đệ tử chạy bán sống bán chết trước tiếng tu huýt ruợt đuổi vì dám dạy thêm. Socrates sẽ ngậm miệng, không dám nói một lời minh triết nào trước đám học trò đến trước cửa ngồi chờ, vì sợ “phụ huynh” nào đó mật báo về kẻ dám dạy thêm.

Đột nhiên, cách huấn dục phi chính phủ, đời gia sư… có từ ngàn đời, hôm nay lại phải đeo một bản án do những người cộng sản đặt ra.

Thật là một điều tồi tệ, khi Bộ Giáo dục Việt Nam không nhận ra hiện trạng của đất nước hôm nay, chính là vũng lầy do họ đào bới. Học thêm, lạm dụng học thêm hay khốn khổ phải học thêm…v.v, tất cả mọi thứ đó là hậu quả bế tắc từ những nhà kiến thiết nền giáo dục tồi. Và khi hôm nay, để chạy chữa cho hiện trạng chính họ tạo ra, Bộ Giáo dục tạo nên một mệnh lệnh mới, phủi tay và đẩy tội lỗi về phía các thầy cô. Lạ lùng thay, khi con bệnh không chịu uống thuốc, nhưng lại buộc cả xã hội phải uống thuốc thay cho nó.

Tội nghiệp cho con cái chúng ta, những đứa trẻ vô tội. Chúng được đưa vào nhà trường và trở thành vật thí nghiệm cho những đề án cao xa, của một nền giáo dục từ sau 1975 đến nay luôn rộn rịp cải cách và huy hoàng trong những thất bại. Nhiều đời Bộ trưởng giáo dục Xã hội chủ nghĩa vẫy tay ra về trong đắc thắng, bất chấp văn hóa và tri thức của nhiều thế hệ ở lại, cấu bám nhau để cố thoát khỏi bờ vực.

Trong một điều tra về nền giáo dục Việt Nam, AFP từng viết rằng “Mệt mỏi bởi những gian lận tràn lan, học vẹt vô tận và các lớp học tư tưởng Lênin bắt buộc, phụ huynh giới trung lưu của lứa học sinh trung học tại Việt Nam luôn nghĩ đến cách chạy trốn khỏi hệ thống trường học của quốc gia, để được giáo dục ở nước ngoài”.

Cũng theo tìm hiểu của AFP, đến năm 2015, mỗi năm giới phụ huynh chi hơn 1 tỉ USD để con mình được học ở các trường trung học và đại học ở nước ngoài. Nhưng đây cũng là ước mơ chung của khoảng 17 triệu học sinh và sinh viên tại Việt Nam vẫn mong được “tị nạn giáo dục” – một cách nói rất phổ biến từ hơn 5 năm nay.

Xin hãy tự đặt ra một câu hỏi, ở Việt Nam, con cái chúng ta đang học để làm gì? Học để bị thí nghiệm tinh thần duy ý chí của các quan chức kém cỏi sáng kiến nhưng giỏi vâng lệnh? Học để tạo dựng cuộc đời cho chính mình, hay học để trở thành người phục vụ cho tư duy chính trị của đảng cầm quyền? “Bốn thập kỷ sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam vào năm 1975, các quan chức cộng sản vẫn chưa cải cách đầy đủ về một lĩnh vực giáo dục. Các nhà bình luận thì nói rằng các chương trình thì luôn nhằm để thúc đẩy tính Đảng, chứ không ưu tiên tạo ra một người giỏi việc”. AFP từng viết như vậy trong bài có tựa đề Vietnam’s creaking education system pushes students overseas.

Gần đây, một tài liệu nghiên cứu mang tên Nhìn lại nền giáo dục VNCH: sự tiếc nuối vô bờ bến, luôn được tái đăng trên các trang mạng. Đọc lại những gì đã làm được của nền giáo dục bị gọi là đồi trụy, lai căng đó… quả là một sự tiếc nuối vô bờ bến về giáo dục và tinh thần độc lập dân tộc. Và hơn nữa, trong giai đoạn chiến tranh khốn khó, giới nhà giáo miền Nam – luôn sống với dạy thêm – vẫn được xem là thành phần được kính trọng bậc nhất của xã hội, thậm chí một chính khách hay tướng lĩnh khi đối diện vẫn phải cúi chào.

Nền giáo dục bị hủy bỏ đó không hô khẩu hiệu phải đứng hàng đầu thế giới, không đưa trẻ em vào đồn công an, không rượt đuổi các thầy cô giáo đến tận nhà để làm nhục vì dạy thêm… nhưng vẫn tạo ra những trí thức bậc nhất, mà sau 1975, ông Võ Văn Kiệt coi đó quý như vàng, và luôn mời gọi họ hãy ở lại giúp đất nước.

Những ngày chiến tranh Nam- Bắc Việt Nam, Trung Cộng vẫn là kẻ thù đáng gờm của Việt Nam Cộng Hòa, thế nhưng ở các trường đại học, người ta vẫn nghiên cứu và học tiếng Hán một cách bình thường. Nó khác với cái cách mà Bộ Giáo dục Việt Nam hôm nay hồ hởi thúc đẩy tiếng Hán vào nhà trường như một món quà nối kết tình đảng Việt – Trung, nhân danh văn hóa.

Ngôn ngữ không có tội khi bị đưa vào giảng dạy. Và con cái chúng ta cũng không có tội để bị ép phải học ngôn ngữ nào mà chúng không muốn. Trong mối quan hệ mật thiết giữa đảng Cộng sản Việt Nam và đảng Cộng sản Trung Quốc, tiếng Hán có thể trở thành chuyện quan trọng – nhưng chắc chắn không thể coi chuyện học tiếng Hán như một cách “cứu sự sụp đổ tiếng Việt”, nhưng kiểu một tay trí thức hạng bét nào đó thích la liếm theo chính sách tuyên truyền, được báo chí nhà nước tung hô.

Con cái chúng ta vô tội, nên chúng không thể trở thành khán giả vô tình cho việc hủy hoại một nền giáo dục, hay đồng lõa biến con mình thành loại cừu ngu ngốc của các thí nghiệm áp đặt. Chúng phải được quyền tự chọn lựa học thêm hay không, trong thế giới này.

Những đứa trẻ ngây thơ vô tội đó cần tiếng nói của chúng ta – những phụ huynh – vốn đã có quá đủ kinh nghiệm về sự suy đồi trong xã hội vì im lặng.

Con cái chúng ta có nguyên bản sơ khởi là tự do và vô tội. Vậy chúng cũng cần được quyền lựa chọn học ngôn ngữ nào cho chính cuộc đời và tương lai của chúng, chứ không phải theo sự áp đặt tiến cống của ông Phùng Xuân Nhạ hay bất kỳ ai khác. Đừng quên, trong khi con cái chúng ta gồng gánh sách vở, và vứt bỏ cuộc đời bên ngoài để đáp ứng cho những chương trình cuồng điên của Bộ Giáo dục, thì có thể con cái những người như ông Nhạ đang rong chơi và thanh thản học những chương trình rất lành mạnh ở nước ngoài.

Con cái chúng ta cũng vô tội như con cái những vị ấy. Chúng cần được sống trong một xã hội không có độc tài giáo dục và nói láo về Lê Văn Tám, Phan Đình Giót, không hủy diệt tri thức và không làm tổn thương thầy cô của chúng, không bị giải đi vào đồn công an ở tuổi thiếu niên, và không bị ép để sinh ra để trở thành công cụ cho ai đó, mà có quyền chọn cho mình một cuộc đời tự do, một lối đi tự do mà chúng muốn.

Nguồn: tuankhanh’s blog

Một số ngụy biện về quan hệ với Trung Quốc

Nguyễn Đình Cống

Vừa qua Câu lạc bộ đọc sách báo của chúng tôi mời được một diễn giả nói chuyện về tình hình thời sự. Ông MĐ là Tổng biên tập một tờ báo lớn, đại biểu HĐND thành phố, ứng cử và được bầu tại phường chúng tôi. Việc ông dành thời gian gần 2 giờ để nói chuyện, đối với CLB là một vinh dự ít có. Ông nói về một số vấn đề thời sự trong nước và thế giới, trong đó điều làm tôi quan tâm nhất là quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc. Theo ông MĐ, tuy rằng có một vài sự kiện ở Biển Đông, nhưng quan hệ Việt Nam và Trung Quốc đang rất tốt đẹp, đặc biệt sau chuyến thăm Trung Quốc của TT Phúc. Ông cho rằng đường lối hòa bình mềm dẻo và tôn trọng luật pháp quốc tế của Đảng ta là sáng suốt, phù hợp với tình hình quốc tế và truyền thống dân tộc. Ông viện dẫn các sự kiện lịch sử các đời vua của Việt Nam vẫn thần phục và triều cống hoàng đế Tàu, mà sự kiện đáng chú ý là Quang Trung, sau khi đánh tan 20 vạn quân Thanh phải sang Bắc Kinh xin thần phục vua Khang Hy (!) nhà Thanh, cho đó là tấm gương cần noi theo.

Đã lâu tôi không được nghe các buổi nói chuyện của các cán bộ tuyên giáo. Trước đây, mỗi lần được nghe như thế tôi chỉ tiếp thu một chiều, làm tôi phấn khởi, được biết thêm nhiều chuyện, được sáng mắt sáng lòng. Nay thì khác, tôi nghe để biết quan điểm của diễn giả và xem “sự ngụy biện” đến đâu.

Kết thúc trong tiếng vỗ tay hoan hô, ông MĐ tỏ ra thỏa mãn, nán lại gặp gỡ và trao đổi thêm với một vài người. Tôi cũng ở lại một chốc, được ông chào và hỏi: “Bác thấy tôi trình bày thế nào”. Tôi trả lời: “Anh nói hay, cung cấp được một số thông tin có giá trị, đa số bà con tham dự xem ra là thỏa mãn, riêng tôi thấy có vài chỗ anh chỉ mới đề cập đến một phần của sự thật bên ngoài, bỏ mất phần khác quan trọng hơn, riêng các lập luận, có hình thức chặt chẽ nhưng để ý ra thì thấy khoảng một phần ba là sai vì phạm vào lỗi ngụy biện, đặc biệt phần nói về quan hệ Việt Trung, về vua Quang Trung”. Đó là một nhận xét có tính phản biện mà diễn giả không mong đợi. Tôi chờ một câu trả lời đại khái như: “Xin cám ơn bác, xin bác chỉ cho biết những chỗ mà bác cho là phần quan trọng hơn, là sai vì ngụy biện”. Nhưng không! Ông ta phản ứng bằng cách chống chế. Tôi biết không thể tiếp tục trao đổi nên xin rút lui để ông đàm đạo với những người khác đang chờ đợi những ý kiến quý báu của ông.

Về quan hệ với Trung Quốc, xin vạch ra một số ngụy biện mà tuyên huấn của Đảng vẫn dùng để lừa nhân dân, mà tiếc thay, một số người vẫn vui vẻ nghe theo (như tôi trước đây).

1. Nước ta bị thế kẹt là ở sát Trung Quốc, bị nó khống chế nhiều bề

Giáp với Trung Quốc không phải chỉ có Việt Nam mà còn 13 nước khác như Mông Cổ, Bhutan, Nepal, Tajikistan, Kazakstan, Nga, Myanmar, Ấn Độ v.v. Trừ Nga và Ấn Độ, các nước khác đều bé, thế mà họ có chịu khuất phục Trung Quốc như Việt Nam đâu. Đặc biệt như Bhutan, có biên giới khá dài với Trung Quốc mà không có quan hệ ngoại giao. Sự chịu khuất phục do nguyên nhân địa lý chỉ là một phần rất rất nhỏ. Nguyên nhân chính là do đường lối lãnh đạo. Nếu đổ cho nguyên nhân địa lý thì giải thích thế nào về các nước như Bhutan, Nepal, Takjilistan… đều bé, Trung Quốc tuy có phá phách ít nhiều nhưng cơ bản không làm họ khuất phục. Ta giáp với Trung Quốc từ khi lập quốc đến giờ mà các đời vua phong kiến trước đây có chịu lép vế một bề như dưới thời CS hay không.

2. Nước ta và Trung Quốc cùng ý thức hệ cộng sản, cùng chung lý tưởng XHCN

Đây là lập luận ngụy biện xảo trá. Việc cùng ý thức hệ có phải là tiền định, là trời bắt phải thế đâu. Đó là do con người lựa chọn. Từng đảng viên cộng sản khi vào Đảng thì có thề trung thành với Đảng nhưng dân tộc này có bao giờ thề lệ thuộc vào Trung Quốc đâu. Ừ, mà cùng ý thức hệ tốt đẹp thì cũng tạm được, nhưng ý thức hệ đó đã lạc hậu, đã thối rữa mất rồi thì đeo bám làm gì. Trước đây chúng ta theo Liên Xô vì ý thức hệ, thế mà Liên Xô sụp đổ rồi, trong lúc Trung Quốc cố dựa vào ý thức hệ để thôn tính Việt Nam thì vin vào nó mà làm gì ngoài sự lừa bịp những người nhẹ dạ cả tin. Mà hỏi xem, ngoài một số rất ít còn dựa vào ý thức hệ để trục lợi thì đại đa số dân Việt Nam có còn tin gì vào nó nữa đâu. Hơn nữa ĐCS Trung Quốc chỉ giữ lại cái tên và tổ chức chứ ý thức hệ CS cũng đã bị vứt bỏ từ lâu, chúng nó chỉ dùng để lừa bịp những người khờ dại trong và ngoài nước. Cũng vì ý thức hệ mà lãnh đạo ĐCS Việt Nam đã ký kết mật ước Thành Đô. Nhiều dư luận yêu cầu công khai minh bạch cho toàn dân biết nội dung, thế mà đến nay lãnh đạo ĐCS vẫn giấu kín.

3. Truyền thống tổ tiên vẫn thần phục Tàu

Đây là lối ngụy biện dùng một phần sự thật để che dấu bản chất. Tổ tiên chúng ta bên ngoài tỏ ra thần phục Tàu chứ chưa bao giờ chịu khuất phục (trừ bọn Ích Tắc, Chiêu Thống…). Như Nguyễn Trãi đã viết: “Như Đại Việt ta, vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã riêng, phong tục Bắc Nam cũng khác. Trải mấy triều Đinh, Lê, Lý, Trần dựng nền độc lập. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương…”. Xét trong lịch sử, trừ thời nhà Hồ bị nhà Minh cướp nước (Gần đây vì họ Hồ chính sách nặng phiền, khiến trong nước lòng người oán giận. Quân Minh cuồng bạo thừa dịp hại dân. Đảng nịnh mưu gian rắp tâm bán nước….Tát cạn nước Đông Hải khôn rửa sạch tanh hôi. Chẻ hết trúc Nam Sơn không đủ ghi tội ác…), thì chưa thấy có triều đại nào chịu khuất phục Trung Quốc về mọi mặt một cách nhục nhã như bây giờ. Ngay như Quang Trung, ông cho người đóng thế mình sang bái phục Càn Long (không phải Khang Hy) chỉ là cái mẹo sau khi đã đánh tan 20 vạn quân của Tôn Sĩ Nghị. Đánh thắng rồi mới cầu hòa chứ không phải cúi đầu xin chỉ thị về mọi việc lúc chưa xẩy ra.

Việc nhất nhất thần phục Tàu Cộng đã được cài sẵn vào gène, vào máu của CS Việt Nam từ khi mới thành lập. Chẳng thế mà Trần Huy Liệu (người thay mặt Hồ Chí Minh vào Huế nhận sự thoái vị của Bảo Đại), vào khoảng năm 1949 có nói một câu nhận xét không tốt về Tàu (coi chừng kẻ thù truyền kiếp của dân tộc) thì bị thất sủng ngay. Năm 1954, Phạm Văn Đồng sau khi ký Hiệp định Genève đã khóc vì bị Chu Ân Lai ép buộc chia cắt đất nước đến vĩ tuyến 17. Năm 1958, được tin Trung Quốc muốn độc chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì Phạm Văn Đồng ký Công hàm công nhận ngay (ngoài ông Đồng ra hình như không có ai ủng hộ Trung Quốc nữa). Năm 1974 Hà Nội giữ hoàn toàn im lặng để cho Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa do VNCH quản lý. Năm 1988 Lê Đức Anh (Bộ trưởng Quốc phòng) ra lệnh cho các chiến sĩ đảo Gạc Ma không được chống cự lính Trung Cộng, để toàn bộ 64 chiến sĩ bị sát hại, xác bị quăng xuống biển. Năm 1991 Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười sang Thành Đô (Trung Quốc không cho đến Bắc Kinh) cầu xin sự che chở và ký mật ước, cố xin gặp Đặng Tiểu Bình nhưng hắn không cho gặp. Năm 2000 Lê Khả Phiêu ký cho Tàu một số đất ở Thác Bản Giốc và Hữu Nghị Quan. Những chuyện như vậy liệu có bao giờ xẩy ra trong lịch sử của tổ tiên. Thế mà ĐCS cứ đưa tổ tiên ra làm bình phong để che đậy.

4. Luận điệu gìn giữ hòa bình, tôn trọng luật pháp Quốc tế

Cứ mỗi lần Trung Quốc có hành động ngang ngược ở biển Đông thì phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam lại tuyên bố: “Phản đối, đòi tôn trọng chủ quyền, chủ trương giải quyết tranh chấp bằng hòa bình, thương lượng, tôn trọng luật pháp quốc tế, không liên kết với nước khác để chống nước thứ ba…”. Nghe quá hóa nhàm. Có những việc lớn, quan trọng mà sao chỉ có đại diện Bộ Ngoại giao, hoặc quá lắm là một cá nhân cấp cao nào đó phát biểu một cách dè dặt, Chính phủ, Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước lặng im. Và dân quá bức xúc biểu tình phản đối thì bị đàn áp. Ừ thì tôn trọng hòa bình, ta không chủ động gây chiến, nhưng ai cấm những phát biểu mạnh mẽ phản đối của Chính phủ, sao lại cấm dân biểu tình, sao không dám kiện ra Tòa án quốc tế như Philippine. Luận điệu “mềm dẻo, hòa bình, tránh xung đột” chẳng qua để che giấu một tâm trạng hèn yếu, không dám tin vào dân, chỉ muốn thần phục để vinh thân phì gia.

5. Luận điểm: Về kinh tế ta phụ thuộc vào Tàu quá nhiều, nếu ta có những đấu tranh mạnh mẽ để bảo vệ chủ quyền mà bị Tàu nổi giận cắt đứt mọi giao dịch thương mại thì ta lâm vào khủng hoảng lớn

Tôi gọi đây là luận điểm chứ không phải luận điệu vì xét ra có phần đúng. Nhưng có phải vì giao lưu hàng hóa mà để cho Tàu vào chiếm cứ các vị trí xung yếu của đất nước, để người Tàu tràn ngập các vùng quan trọng, để họ phá nát môi trường. Những nước như Mỹ, Đức, Nhật, Úc… họ có làm như thế đối với các nước khác đâu. Việc để kinh tế, thương mại, xây dựng của Việt Nam quá lệ thuuộc vào Tàu, để cho Tàu thực hiện các dự án lớn làm hủy hoại môi trường là tội của những người lãnh đạo tham và ngu. Bây giờ đã lỡ ra rồi thì không phải cứ cố trượt dài trên con đường sai lầm mà phải tìm cách khắc phục. Tuy vậy việc ngừng giao lưu kinh tế với Tàu khi chúng ta có những đấu tranh mạnh mẽ để bào vệ chủ quyền cũng chỉ mới là suy đoán. Việc giao lưu là có lợi cho cả hai bên. Việc giao lưu với Tàu nếu bị giảm sút, trước mắt kinh tế Việt sẽ gặp khó khăn, đời sống của đân bị ảnh hưởng. Nhưng thử hỏi dân xem họ có vui lòng chấp nhận khó khăn trong thời gian ngắn để loại bỏ mọi xấu xa do Tàu mang đến. Tôi nghĩ rằng được giải thích đa số dân sẽ vui lòng. Hơn nữa dân ta có câu: “Trong cái khó ló cái khôn”. Trước đây vì nhầm lẫn mà ta ưu tiên thị trường Trung Quốc, nhưng nếu vì bảo vệ chủ quyền mà nó bị co lại thì các nhà doanh nghiệp Việt có đủ trí khôn để mở ra các nước khác, chứ làm sao chịu bó tay.

6. Nhận định

Tôi cho rằng những ngụy biện trên đây chỉ nhằm để duy trì chế độ độc tài Đảng trị theo đường lối CS, đem nước ta phụ thuộc vào Tàu Cộng. Muốn thoát khỏi sự lệ thuộc này trước hết phải thoát ra khỏi ý thức hệ CS, phải cải cách thể chế theo con đường dân chủ chân chính. Một ngày mà ĐCS Việt Nam còn kiên trì đường lối hiện hành thì dân Việt còn chịu cảnh lầm than và đất nước dần dần bị thôn tính.

Để kết thúc xin kể câu chuyện: Ngày xưa bên Tàu, nước Triệu (Thời U Mục Vương), nhờ có Lý Mục và Tư Mã Thượng là những người tài giỏi, yêu nước mà ngăn chặn được sự xâm lược của nước Tần. Thế nhưng vua Triệu tin dùng tên quan đứng đầu triều đình là Quách Khai, một kẻ tham lam. Gián điệp nước Tần đem biếu Quách khai một số lớn vàng bạc với yêu cầu vu cáo Lý Mục và Tư Mã thượng là bọn phản bội, chống lại nhà vua, để họ bị loại bỏ. Quách Khai nhận vàng bạc, thực hiện âm mưu, xui dục vua giết chết Lý Mục, đuổi được Tư Mã Thưọng. Kết quả quân Tần xâm chiếm nước Triệu một cách dễ dàng. Sau vụ này vua Tần nói: Ta chỉ bỏ ra ít vàng bạc mua được Quách Khai, dùng Khai để chiếm được Triệu, quá rẻ. Quách Khai hý hửng cho rằng đã lập công với Tần nhưng bị Tần đuổi đi, không dùng kẻ phản phúc. Quách Khai về quê, chở theo mấy xe vàng bạc. Giữa đường bị những người nghĩa khí giết hết cả nhà, lấy hết của cải.

Bình luận – Việc này đáng cho nhiều người Việt suy ngẫm. Nhưng những kẻ rắp tâm bán nước nghĩ rằng họ khôn hơn Quách Khai vì đã tuồn nhiều của cải và cho con cháu ra nước ngoài. Không đâu, chúng mày khôn, sẽ có người khôn hơn và trên hết, chúng mày đã gây ra nghiệp chướng, thế nào cũng chịu nghiệp báo. Hãy luôn nhớ rằng của cải do sức lao động và tài năng làm ra mới bền chặt, còn của phi nghĩa do gian lận, tham nhũng, tước đoạt thì chỉ làm giàu tạm thời, không đời chúng mày thì đời con, đời cháu cũng tiêu thành mây khói và chưa biết còn những thảm họa nào nữa.

N.Đ.C.

Tác giả gửi BVN.

Nguồn: boxitvn.net

Quan hệ Mỹ-Trung vùng Nam Thái Bình Dương

Trích:

Thái độ tiếp khách của Tập Cận Bình ngày họp G20 là thái độ của Hoàng Đế Trung Hoa trong 4000 năm tiếp sứ thần triều cống. Tổng Thống Obama đến không được yếu nhân ra đón, không thảm đỏ, Tập Cận Bình đứng giữa đợi khách đến không chào đón như người Tây phương đón khách. Thái độ hống hách của Hoàng Đế Trung Hoa xem Trung Hoa là “cái rốn của vũ trụ.” Trung Quốc coi tất cả các nước lân bang đều là chư hầu. Đế quốc do CSTQ cai trị trong đó có hơn 1/3 dân thiểu số bị cai trị như trong 5000 năm với thái độ thiên triều, Nam man Bắc rợ, Tây Dương cho đến khi nhà Thanh sụp đổ năm 1911-1912 bị ngũ cường thôn tính. Bắc Kinh thay đổi lịch sử, viết sử giả, làm bản đồ giả dùng những bản đồ ấy để làm vũ khí xâm lăng các nước láng giềng từ Tây Tạng, qua Tân Cương đến Việt Nam và Đại Hàn. Giáo Sư Jim Wung Kim viết sách lịch sử Đại Hàn qua đại học Havard, đại học đã mướn ông ngồi viết sử vì “Trung Cộng sửa sử Đại Hàn cho người Đại Hàn là người Hán” tương tự như người Việt Nam bị xem là từ người Hán khác với sách nhân chủng học của đại học Oxford trong đó người Việt có nguồn gốc từ Bách Việt, giòng dõi riêng không thuộc dân Hán. Sau Đại Hội G20, một ông sư quốc doanh Thích Chấn Quang đã nói Lý Thường Kiệt mang quân đánh Trung Quốc là hỗn “vì người Việt là em người Hán!” Lý luận của ông sư thiếu văn hóa cũng giống như nói “Vượn là tổ loài người bây giờ người nhốt vượn, đười ươi là tổ tiên vào chuồng ở sở thú thì người hỗn láo với tổ tiên?”

Quý bạn nhấn vào hàng tiêu đề để đọc toàn văn trên Người Việt( Cali.)