Feeds:
Bài viết
Bình luận

CSVN thu hồi sách về ‘Gạc Ma-Trường Sa’ vì có thể làm phật ý Bắc Kinh

Trích:

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Hiếm có cuốn sách nào ở Việt Nam “nhiều nỗi truân chuyên” như cuốn “Gạc Ma-Vòng Tròn Bất Tử”: Thực hiện bản thảo từ năm 2014, lần lượt qua 14 nhà xuất bản và mãi đến đầu Tháng Bảy, 2018 mới được phát hành chính thức….Ông Sơn cũng viết thêm: “Tôi tin những người lính chiến đấu ở Gạc Ma-Cô Lin-Len Đao. Họ bị quân thù bắn xối xả, muốn phản kháng lại, dù bằng vũ khí yếu hơn, nhưng họ đã không làm vì ‘có lệnh của trên.’ Lệnh đó thì tôi tin không bao giờ có bằng văn bản, mà chỉ phổ biến tới những người lính. Người trực tiếp ra lệnh cho họ ở trận tiền thì đã hy sinh. Người còn sống kể lại lý do vì sao ông không nổ súng cho những người làm sách thì thấp cổ bé họng, nói ra thì bị cho là nói sai sự thật. Tôi nghĩ, giữa phút sinh tử ấy, không ai nói dối làm gì, trừ khi ai đó ép buộc họ phải nói dối.”

Bạn đọc nhấn vào hàng tiêu đề để đọc toàn văn trên Người Việt (Hoa Kỳ)

Advertisements

Đôi giòng:
Tác giả viết vào tháng 6  2004, nhưng đến giờ này xem ra nỗi nhục ngày càng tăng!!!

Nỗi nhục tháng 6, nỉ hảo a!

Nam Dao

Thú thật, tôi viết những dòng này vì không còn nhịn được nữa!

Vào đầu thập niên 70 thế kỷ trước, khi có người hỏi, tôi hiên ngang bảo tôi là người Việt Nam, không biết rằng người Việt Nam đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô và Trung Quốc. Khi đó, tôi nghĩ, người Việt Nam buộc phải chiến đấu vì lẽ công chính cho toàn nhân loại. Nhưng chuyện qua rồi!

Có những chuyện đã qua nhưng không thể nào quên. Khi Nguyên Mông xua quân vào xâm lăng nước ta, Tiết chế Trần Hưng Đạo tâu vua Trần: “Nếu Bệ hạ định hàng giặc, xin chém đầu thần trước!”. Nguyên Mông khi đó là Đế quốc, mang quân đi xâm chiếm cả một phần Âu Châu, sức mạnh kể như vô địch, không đối trọng, không dư luận quốc tế, không tên lửa, khôngmáy bay siêu âm mang đầu đạn nguyên tử, chỉ có người, ngựa, và một sức mạnh thuần quân sự. Tổ chức xã hội Việt Nam thời nhà Trần chưa tập trung, dựa trênTôn thất trấn nhiệm ở nhiều địa phương, ngai vua lại mới lấy từ nhà Lý không lâu. Vua Trần tổ chức Hội Nghị Diên Hồng: Trước nhục nước nên hoà hay nên chiến? Đại Việt một lòng, nhà Trần chiến thắng quân Nguyên ba lần, cọc nhọn cắm sông Bạch Đằng còn là chứng tích.

Có những chuyện đã qua nhưng không thể nào quên. Khi quân Thanh vào xâm chiếm Đại Việt mới cách đây hai thế kỷ, một người áo vải đất Tây Sơn hô: “Đánh cho để dài tóc / Đánh cho để đen răng / Đánh cho nó chích luân bất phản / Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn / Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”. Đánh, và nguyên soái quân xâm lăng Tôn Sĩ Nghị chui nhủi  lẩn về đại quốc, tướng giặc Sầm Nghi Đống bỏ mạng phơi thây trên gò Đống Đa.

Và xin ta cùng ghi nhớ: một triều đại ở Trung Quốc khi mạnh, từ Tống đến Nguyên, Minh, Thanh, đều nhăm nhe thôn tính đất Đại Việt phương Nam. Họa phương Bắc không là chuyện mới.

Hoạ Bắc phuơng nay không chỉ là chuyện quân sự. So ra với anh láng giềng “tốt”, Việt Nam thua trên toàn cục:về tổ chức chính trị vàxã hội thì rập khuôn, bắt chước ăn theo một nước mà điều kiện khác hẳn, trừ cái rêu rao ngoài miệng là Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội (giả mạo)! Về kinh tế thì lệ thuộc từ cái tăm xỉa răng cho đến cái cúc đơm áo, phải nhập và nhập siêu, mỗi năm 20tỉ đô tuồn qua “nước bạn”. Nước bạn này không xuất vốn nhưng trúng thầu 90%, chuyên thầu những công trình cung cấp năng lượng (tức con đường công nghiệp hóa của Việt Nam), hiện gần như độc quyền bán nguyên vật liệu sản xuất, và như thế có thể kiểm soát khá lớn ở ngắn hạn cũng như dài hạn nền sản xuất Việt Nam. Mặt quân sự, dĩ nhiên Việt Nam không sản xuất tàu sân bay, tàu ngầm, máy bay, và với kinh tế oặt oẹo thì chẳng sức nào đi mua để “hiện đại” hoá hệ thống khí giới quân trang dù chỉ để phòng thủ. Và nay, phòng thủ thôi thì quá khó rồi. Cho thuê biển khiến vịnh Bắc bộ nay thành “ao nhà” của Trung Quốc. “Bạn” lại thuê luôn đất Lào dọc biên giới với “ta”, khiến con đường bộ binh “bạn” vào Hà Tĩnh và Tây Nguyên nay trở thành chuyện dễ như lật bàn tay. Mà thôi, giữ nước đâu phải chỉ là vấn đề chiến tranh, một chuyện cực chẳng đã!

Chắc chẳng cần nhắc chuyện giàn khoan Hải Dương 981, qua đó Trung Quốc xâm phạm lãnh hải và thềm lục địa của Việt Nam. Nhiều quốc gia, quan trọng nhất là Mỹ và Nhật, cho rằng Trung Quốc không tuân thủ qui ước và luật lệ quốc tế khi có tranh chấp, đơn phương làm “nóng “chuyện Biển Đông với sức mạnh ngang ngược cường quyền. Nhưng qua lời Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đại diện Việt Nam ở hội nghị Shangri-La thì không! Ông tiết chế này, nói lái là “chết tiếp”, nhỏ nhẹ với thế giới đây là “chuyện gia đình” có những “va chạm” chứ giữa Trung Quốcvà Việt Nam, tình hữu hảo đã và đang(?) tốt đẹp! Chết rồi, có chết tiếp thì đúng chẳng sao! Đến chết mà vẫn chắp tay thưa, ‘’nỉ hảo a!’’ thì là vấn đề!

Trước Shangri-La tôi đã nghĩ Việt Nam nên:

1-     Chính thức đưa ngay sự vụ xâm phạm lãnh hải Việt Nam qua cài đặt giàn khoan Hải Dương 981 ra Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc.

2-     Đâm đơn kiện Trung Quốc vi phạm Luật Biển 1982 (UNCLOS).

3-     Thúc đẩy tiến trình liên minh với Nhật Bản và Phi Luật Tân trong vấn đề biển đảo liên quan đến mọi bên.

4-     Tăng cường quan hệ với Mỹ trên mọi mặt hầu có được sự hỗ trợ cần thiết.

5-     Lập một diễn đàn quốc tế về vấn đề biển đảo để thông tin trung thực đến mọi quốc gia trong cộng đồng thế giới.

Nay thì…tôi chẳng dám nghĩ nữa.Nghĩ đến đất nước  là cái khả năng hoàn toàn không có trong nội bộ Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Xin kể một chuyện bên lề. Tôi có một ông bạn nguyên là Giáo sư Trung Quốc học, nay về hưu nhưng cứ dăm ba tháng gặp nhau ăn trưa nói chuyện châu Á. Xưa, ông dạy Pháp văn ở Đại học Hương Cảng, sau vụ Thiên An Môn năm 1989 thì vĩnh viễn lưu vong, từng mong rằng Đổi Mới ở Việt Nam tiếp sức cho cuộc đánh bật rễ những ý thức già nua trong văn hóa chính trị châu Á. Lần này, chúng tôi đang trao đổi thì có một vị Giáo sư khoa Nhân văn người Canada ghé qua chào ông bạn tôi. Nhìn tôi là người lạ mặt,ông hỏi: “Ông cũng là người Tàu?”. Trời ơi, tôi cảm thấy một nỗi nhục nhã như sóng triều dâng lên đến cổ. Tôi cố nuốt nước bọt, lắc đầu. Và tôi gượng cười. Ôngvui vẻ kêu “Nỉ hảo a!”, dẫu tôi đã đáp tôi là người Việt.

 BVN 5/06/2014

Tôi từng ghét ‘bọn phản động Ba Lan’

7 tháng 7 2018
Trích:

Sáng sớm hàng ngày, trên đường đi học nhìn những ông già bà già về hưu xếp hàng dài trước các cửa hàng thực phẩm, chúng tôi thất vọng tràn trề. Chủ nghĩa xã hội phát triển, thiên đường của những người lao động mà nhếch nhác nghèo đói như thế này ư?

Ấy vậy mà tình yêu chủ nghĩa cộng sản trong lòng tôi lúc đó thấm đẫm hơn các chiến sĩ Trung đoàn AK47 của ta bây giờ nhiều. Chẳng có gì phải giấu, lúc bấy giờ tôi là đảng viên trẻ tràn đầy nhiệt huyết, quyết hi sinh phấn đấu cho lí tưởng cộng sản “cao đẹp”.

Cả xã hội Ba Lan lúc đó bị phân hóa sâu sắc, bên ủng hộ chế độ Cộng sản, bên ủng hộ Công đoàn Đoàn Kết đối lập. Sự chia rẽ này len lỏi vào từng cơ quan, nhà máy, trường học, thậm chí từng gia đình.

________________________________________________________________________
Bạn đọc nhấn vào hàng tiêu đề để đọc toàn văn trên BBC tiếng Việt

LÃNG MẠN CÀ PHÊ HÈ PHỐ Ở PARIS

Ở từng góc phố, những quán cà phê nhỏ bé, nên thơ với những giỏ hoa sắc màu sặc sỡ như một nét điểm xuyết đáng yêu cho Paris tráng lệ. Chọn một góc khuất, nhâm nhi một tách cà phê thơm nồng để tận hưởng cuộc sống êm đềm nơi đây.

Sự thực đến Paris mà không vào quán uống cà phê, bạn sẽ “không thấy và không có Paris”. Những quán cà phê nhỏ bé, xinh xắn hiện diện ở mỗi góc phố, bên bờ sông, bên cạnh quảng trường, dã chiến với những bộ bàn ghế gỗ đơn giản, những chiếc dù che nắng duyên dáng hay thực đơn được viết đơn giản bằng bảng đen phấn trắng.

Suốt con đường dài bên tả ngạn sông Seine gọi là đường của các quán cà phê. Mỗi góc phố đều có một quán cà phê với lối trang trí đặc biệt Pháp, mở thông ra hè phố. Dưới mái hiên che bằng nhựa trong để lấy ánh sáng là những chiếc ghế mây nhỏ, những bàn tròn hay vuông gọn gàng cho hai,5 Cafe Paris 1 ba người ngồi hay những bộ bàn ghế sắt sơn trắng uốn lượn xinh xắn, được phủ lên môt lớp khăn ren hay kẻ sọc thanh nhã.

Du khách không thể nào không dừng bước trước những mùi thơm dễ chịu tỏa ra từ những quán ngoài trời giản dị mà tinh tế với những giỏ hoa tươi ngập tràn màu sắc trải dài khắp quán.

Thú vị nhất là ngồi ở quán Procope ở tả ngạn sông Seine, một trong những quán cà phê cổ nhất Paris, nhấm nháp một ly cà phê thơm nồng, phóng tầm mắt và cảm nhận vẻ đẹp lãng mạn của xứ sở tình yêu này. Người Pháp hay nhâm nhi tách cà phê trên góc phố cùng với chiếc bánh croissant, hay mấy thanh chocolate đen, kẹo nougat… Cà phê cũng thường được chia ra làm 2 loại:

5 Cafe Paris 2Café au lait và Café noir. Cafe au lait có pha trộn từ cafe với sữa, kem, bơ tươi. Đó có thể là Café noisette – espresso đậm đặc pha chút sữa tươi hảo hạng.

Cafe Noir nguyên chất, vị nặng và đằm, thường được phân loại dựa theo xuất xứ, chất lượng của hạt cà phê cũng như nồng độ pha chế.

Nếu một lần đến Paris, hãy chọn một góc khuất ở bất cứ ngã tư nào của thành phố, gọi một cốc cà phê sữa, ngắm nụ cười mỉm đặc biệt của người Pháp, tận hưởng cuộc sống êm đềm trôi nơi đây. (theo Lynne)
______________________________________
Nguồn: Blog Trung học Hồ Ngọc Cẩn

Đại nạn Trung Hoa thời cận đại
Tác Giả:Trần Gia Phụng
25/06/2018

Vào gần cuối thế kỷ 19, bị các nước Tây phương đe dọa, Trung Hoa khốn đốn không kém Việt Nam, nhưng triều đình nhà Thanh (cai trị Trung Hoa 1644-1911) vẫn tự nhận Trung Hoa là thượng quốc, có ưu quyền đối với Việt Nam.

1.- TRUNG HOA TỰ NHẬN ƯU QUYỀN THƯỢNG QUỐC

Trên đường tìm kiếm thuộc địa sau cuộc cách mạng kỹ nghệ ở Âu Châu, Pháp viện dẫn lý do triều Nguyễn (cai trị Việt Nam 1802-1945) đàn áp Ky-Tô giáo, Pháp đem quân tấn công Đà Nẵng ngày 1-9-1858, mở đầu cuộc xâm lăng Việt Nam. Pháp chiếm các tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long, buộc triều đình Huế phải ký hòa ước ngày 5-6-1862, nhượng ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường (ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ) cho Pháp.

Không dừng lại ở đó, Pháp tiếp tục chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Gia, Hà Tiên năm 1867, và tiến quân ra đánh Bắc Kỳ lần thứ nhứt năm 1873, chiếm Hà Nội, Ninh Bình, Hải Dương, Nam Định. Pháp ép triều đình Huế ký hòa ước ngày 15-3-1874, nhường đứt luôn ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ cho Pháp, để Pháp trả lại các tỉnh Bắc Kỳ.

Hòa ước ngày 15-3-1874 gồm 22 điều khoản, trong đó điều khoản số 2 nói rằng “Tổng thống Pháp nhận Đại Nam là một quốc gia độc lập, không phải thần phục nước nào, hứa giúp Hoàng đế Đại Nam nếu cần, bảo vệ an ninh trong và ngoài nước.” Điều khoản số 3 tiếp theo “Để đáp lại sự bảo hộ ấy, Hoàng đế Đại Nam từ nay chịu theo chính sách ngoại giao hiện thời của nước Pháp.” Nói cách khác, từ nay Việt Nam phải lệ thuộc nền ngoại giao của Pháp, và không được thần phục hay giao thiệp với nước khác mà không có sự đồng ý của Pháp.

Khi hòa ước 1874 đã được hai bên Việt Pháp phê chuẩn và trao đổi, đại diện Pháp tại Bắc Kinh là De Rochehouart chuyển bản hòa ước nầy cho chính phủ Trung Hoa ngày 24-5-1875. Triều đình nhà Thanh trả lời rằng: “Chí Giao Chỉ tức Việt Nam bổn hệ Trung Hoa thuộc quốc.” (nghĩa là: “Từ [thời] Giao Chỉ đến Việt Nam vốn là thuộc quốc của Trung Hoa.”)

Câu nầy được tòa lãnh sự Pháp dịch qua Pháp văn theo nghĩa là: “An Nam cũng là xứ được gọi là Việt nam. Xứ nầy từng là nước thần phục Trung Hoa.” (Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Nguyễn Đình Đầu dịch, TpHCM: Ban Khoa học Xã hội, 1990, tr. 142.) Do cách hành văn khác nhau, Trung Hoa nghĩ rằng họ đã phản đối Pháp, nhưng Pháp lại cho rằng Trung Hoa chẳng phản đối gì.

Trong cuộc tiếp xúc với thủ tướng Pháp là Charles de Freycinet ngày 25-1-1880, đại sứ Trung Hoa tại Pháp là Tăng Kỷ Trạch khẳng định với Pháp rằng Việt Nam là chư hầu của Trung Hoa. (Yoshiharu Tsuboi, sđd. tr. 142.) Vua Trung Hoa lúc nầy là Quang Tự (Kuang-hsu) hay Thanh Đức Tông (Qing Te-tsung, trị 1875-1908) mới 10 tuổi và bà thái hậu Từ Hy (Tzu-His hoặc Ci Xi, 1835-1908) giữ quyền nhiếp chính.

Tăng Kỷ Trạch còn viết thư ngày 10-11-1880 khi ông đến St Pétersbourg (Nga), yêu cầu ngoại trưởng Pháp cho Trung Hoa biết lập trường của Paris về những biến chuyển ở Bắc Kỳ. Trong thư trả lời ngày 27-12-1880, ngoại trưởng Pháp Barthélemy St. Hilaire đáp lại rằng theo điều 2 hòa ước 1874, Pháp có bổn phận và trách nhiệm với Việt Nam. Thư nầy được gởi đến cho Tăng Kỷ Trạch và chính phủ Trung Hoa.

Tăng Kỷ Trạch cho đại diện Pháp ở St. Pétersbourg biết rằng Pháp có thể chiếm Trung Kỳ, nhưng nếu chiếm Bắc Kỳ thì sẽ gây quan ngại cho Trung Hoa, vì vùng nầy tiếp giáp với biên giới Trung Hoa. Ngoại trưởng Pháp liền ra lệnh cho viên đại diện Pháp báo cho Tăng Kỷ Trạch biết rằng từ năm 1874, ngoài nước Pháp Việt Nam đã hoàn toàn cắt đứt liên hệ với các nước khác. (Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn 1883-1945, tập 1, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1999, tt. 273-274.)

Về phía Việt Nam, dầu đã ký hòa ước 1874, chịu nhận nền ngoại giao Pháp, vua Tự Đức vẫn gởi phái bộ ngoại giao sang Trung Hoa năm 1876, để chúc mừng vua Thanh Đức Tông (Te-tsung) (trị vì 1875-1908) tức vua Quang Tự (Kuang-hsu), lên thay vua Thanh Mục Tông (Mu-tsung) (trị vì 1862-1874) tức vua Đồng Trị (T’ung-chih) từ trần năm 1874. Tháng 7-1880, vua Tự Đức còn cử sứ sang Trung Hoa thêm lần nữa. Chuyến đi nầy, chẳng những có tính cách ngoại giao thông lệ bốn năm một lần cống sứ, mà còn để nhờ Trung Hoa giúp đỡ.

Năm sau (1881), Trung Hoa gởi Đường Đình Canh sang kinh đô Huế bàn chuyện buôn bán, lập chiêu thương cuộc. Những sự kiện nầy không thể qua mặt người Pháp. Khâm sứ Pháp tại Huế là Rheinart đã báo cáo đầy đủ các chuyến đi sứ của Việt Nam sang Trung Hoa cho thượng cấp ngày 2-8-1882. (Yoshiharu Tsuboi, sđd. tt. 298-299.)

Về phía nhà Thanh, tại Bắc Kinh, đại diện Trung Hoa phản đối với đại sứ Pháp, cho rằng Việt Nam là thuộc quốc của Trung Hoa và yêu cầu Pháp rút quân khỏi Bắc Kỳ để duy trì tình hữu nghị Hoa Pháp. Tại Paris, ngày 6-5-1882, đại sứ Tăng Kỷ Trạch cũng lên tiếng phản đối Pháp và yêu cầu Pháp rút quân.

Thủ tướng Pháp là Freycinet cho rằng lời lẽ của họ Tăng bất nhã, nên thông báo cho đại sứ Pháp tại Bắc Kinh tin cho chính phủ Trung Hoa biết rằng Pháp sẽ không nói chuyện với Trung Hoa và yêu cầu Trung Hoa đừng xen vào chính sách Pháp ở Bắc Kỳ. (Alfred Schreiner, Abrégé de l’histoire d’Annam, Sài Gòn: 1906, tr. 353.)

Về quân sự, ngày 30-6-1882, tổng đốc Vân Nam (Trung Hoa) loan báo rằng quân đội Trung Hoa sẽ tiến vào lãnh thổ Bắc Kỳ để truy đuổi các thổ phỉ Cờ đen. Trong tháng sau, tướng Tạ Kính Bưu đem ba doanh quân Vân Nam đến đóng tại Quản Ty (Hưng Hóa). [Một doanh khoảng 1,000 quân.] Vào tháng 9, nhà Thanh cử tướng Hoàng Quế Lan đem mười hai doanh quân đóng ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Ninh, và tướng Triệu Ốc đem năm doanh quân đóng ở Tuyên Quang. Tài liệu Pháp cho rằng số quân Trung Hoa tại Bắc Kỳ lúc đó lên đến 20,000 người. Dầu vậy, lực lượng Trung Hoa dần dần bị Pháp đẩy lui.

Trong thực tế, Trung Hoa điều quân qua Việt Nam nhắm mưu lợi, chứ chẳng phải thực tâm giúp đỡ Việt Nam chống Pháp, nên khi thấy không thể chiến thắng được Pháp, Trung Hoa quay qua thương thuyết với Pháp để chia phần ở Việt Nam.

2.- TRUNG HOA ÂM MƯU CHIA HAI BẮC KỲ VỚI PHÁP

Ngày 27-10-1882, Paris thông báo cho đại sứ Pháp ở Trung Hoa là Bourée biết, trong phiên họp ngày 21-10, chính phủ Pháp quyết định bảo hộ Việt Nam, để Bourée nói chuyện với Bắc Kinh. Trước sự cương quyết của Pháp, vào đầu tháng 11-1882, Lý Hồng Chương (Li Hongzhang hay Li-Hung-Tchang), một viên chức cao cấp trong Tổng lý nha môn, cơ quan phụ trách ngoại giao của triều đình Trung Hoa, đề nghị với Bourée rằng Trung Hoa và Pháp chia nhau bảo hộ Bắc Kỳ. Bourée báo cáo sáng kiến của Lý Hồng Chương về Pháp.

Lúc đó, các chính phủ Paris kế tiếp nhau, đều muốn chiếm Bắc Kỳ nhưng vừa ngại tốn kém vì Quốc hội Pháp không chuẩn chi, vừa ngại đụng chạm với Trung Hoa, nên đường lối của chính phủ Pháp không rõ ràng và hay thay đổi. Ngày 5-12-1882, Bourée cho Paris biết là Bắc Kinh đã ra lệnh quân Thanh rút khỏi Bắc Kỳ về Vân Nam và Quảng Tây. Cũng trong ngày nầy, bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp ra lệnh cho soái phủ Sài Gòn tránh đụng chạm với quân Trung Hoa. (Vũ Ngự Chiêu, sđd. tr. 291)

Ngày 20-12-1882, tại Thiên Tân (Tianjin hay Tientsin), Bourée và Lý Hồng Chương ký tạm ước về Bắc Kỳ, theo đó Trung Hoa chiếm phía bắc sông Hồng (vùng núi non và hầm mỏ), và Pháp chiếm phía nam sông Hồng (vùng châu thổ, sản xuất nông phẩm). Lào Cai được xem là một thương cảng Trung Hoa, nhưng người Pháp được quyền tự do buôn bán với Vân Nam. (Khối Quân sử, Quân dân Việt Nam chống Tây xâm (1847-1945), Quân sử III, Sài Gòn: Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, 1971, tr. 164.) Tạm ước nầy thật ra rất mơ hồ, chỉ lấy sông Hồng chia hai địa phận, nhưng chưa vạch ra cụ thể ranh giới giữa hai bên Pháp và Trung Hoa ở Bắc Kỳ.

Tuy nhiên, chẳng bao lâu, tạm ước Thiên Tân bị bãi bỏ. Nguyên tại Paris, chính phủ Charles Duclerc sụp đổ ngày 22-1-1883. Armand Fallières tạm thay một thời gian, thì Jules Ferry trở lại làm thủ tướng lần thứ hai ngày 21-2-1883. Lúc đó, Pháp dứt khoát về vấn đề Ai Cập (Egypt) vì nước nầy đã do nước Anh đô hộ từ 1882. Jules Ferry dồn nỗ lực về phía Việt Nam.

Việc làm đầu tiên của chính phủ Jules Ferry về Việt Nam là bãi bỏ tạm ước Thiên Tân mà Bourée đã ký với Lý Hồng Chương, vì theo chính phủ nầy, tạm ước đã giành cho Trung Hoa quá nhiều quyền lợi ở Bắc Kỳ. Quyết định bãi bỏ được báo cho Trung Hoa biết ngày 5-3-1883. Hai tháng sau, đại sứ Bourée bị triệu hồi. Chính phủ Pháp đưa Tricou, nguyên đại sứ Pháp tại Nhật Bản, sang Bắc Kinh làm đại sứ từ ngày 1-6-1883.

Ngày 18-8-1883, đại sứ Trung Hoa là Tăng Kỷ Trạch giao cho chính phủ Pháp lập trường sáu điểm của Trung Hoa về Bắc Kỳ, theo đó: (1) Ngoại trừ Nam Kỳ, Pháp không được chiếm bất cứ phần lãnh thổ nào của An Nam; (2) An Nam là chư hầu của Trung Hoa; (3) Pháp phải triệt binh khỏi những nơi đã chiếm của An Nam, mở một số hải cảng để giao thương, và các cường quốc có quyền đặt tòa lãnh sự tại các cảng nầy; (4) Sông Hồng phải được mở rộng để giao thương; (5) Trung Hoa sẽ bảo đảm việc tự do giao thương trên sông Hồng; (6) Những hòa ước giữa Pháp va Việt Nam phải được Trung Hoa chấp thuận. (Vũ Ngự Chiêu, tt. 328-329.)

Trong khi đó, Pháp đưa quân từ Bắc Kỳ, tiến đánh cửa Thuận An (Huế) ngày 20-8-1883. Thất bại, triều đình Huế đành xin điều đình và ký hòa ước ngày 25-8-1883, gồm 27 điều khoản, trong đó điều 1 viết rằng “Nước Nam nhận và chịu sự bảo hộ của nước Pháp với những hậu quả của mối tương giao nầy theo luật pháp ngoại giao Âu Châu, nghĩa là nước Pháp chủ trương mọi sự giao thiệp của nước Nam với các nước ngoài, kể cả nước Tàu, và nước Nam có giao thiệp ngoại giao với nước nào thì chỉ do một mình nước Pháp môi giới mà thôi.”

Bảo hộ xong Việt Nam, hai ngày sau, ngoại trưởng Pháp từ chối yêu cầu sáu điểm của Trung Hoa trong thư trả lời ngày 27-8, và cho Trung Hoa biết rằng Pháp sẵn sàng giải quyết vấn đề an ninh biên giới và quyền lợi người Hoa buôn bán trên sông Hồng.

Ngoại trưởng Pháp còn gởi công văn ngày 15-9-1883 cho chính phủ Trung Hoa, một lần nữa xác nhận rằng Pháp không chấp nhận tạm ước Thiên Tân ngày 20-12-1882, giữa đại sứ Bourée và Lý Hồng Chương về Bắc Kỳ. Công văn ngày 15-9 còn đưa ra đề nghị mới của Pháp gồm hai điểm: (1) Lập một khu phi quân sự giữa hai vĩ tuyến 21 và 22, nếu một bên muốn động binh để đánh dẹp thổ phỉ thì phải có sự đồng ý của bên kia. (2) Thị trấn Man Hao trên sông Hồng trong lãnh thổ Trung Hoa sẽ được mở ra cho việc giao thương. Chính sách của chính phủ Jules Ferry được Quốc hội Pháp hậu thuẫn mạnh mẽ trong cuộc đầu phiếu tại Quốc hội ngày 31-10-1883. (Vũ Ngự Chiêu, sđd. tt. 330-332.)

Hai chính phủ Pháp Hoa tranh cãi không dứt về vấn đề Bắc Kỳ. Pháp muốn độc quyền tại miền Bắc Kỳ, trong khi Trung Hoa muốn chia một phần Bắc Kỳ cho Trung Hoa, và bảo đảm an toàn biên giới Việt Hoa. Trung Hoa tin tưởng rằng Pháp khó có thể chiến thắng lực lượng Trung Hoa ở Bắc Kỳ. Ngoài ra, Trung Hoa còn hy vọng hai nước Anh và Đức sẽ can thiệp, nhưng lúc đó, Anh đang bận rộn ở Ai Cập và Đức muốn Pháp bành trướng ở Bắc Kỳ hơn là tập trung lực lượng để chống Đức ở biên giới giữa hai bên.

Cuối cùng, tại Bắc Kỳ, Pháp đã đánh đuổi quân Trung Hoa và quân Cờ đen chạy lên miền biên giới, làm chủ tình hình Bắc Kỳ. Lúc đó, Trung Hoa thấy không thể kiếm lợi được ở Việt Nam mà còn lo ngại Pháp sẽ tiến chiếm Đài Loan hay Hải Nam để đòi chiến phí, nên Trung Hoa bắt đầu thay đổi chính sách.

3.- HIỆP ƯỚC THIÊN TÂN LẦN THỨ NHỨT (11-5-1884)

Đầu tiên, Lý Hồng Chương, nhờ một thân hữu tên là Detring, người Đức, công chức cao cấp trong ngành thương chánh Trung Hoa và đã phục vụ 20 năm ở Quảng Châu, vận động với chính phủ Pháp. Vào tháng 4-1884, Detring đem việc nầy thảo luận với một người bạn là trung tá Ernest François Fournier, hạm trưởng tuần dương hạm Volta, đang đóng ở Quảng Đông. Fournier trình bày lại ý định của Lý Hồng Chương với cấp chỉ huy là phó đô đốc Lespès, tư lệnh hạm đội Pháp tại Trung Hoa và Nhật Bản. Một mặt, Lespès thuận cho Fournier nói chuyện với Lý Hồng Chương, một mặt Lespès trình về Paris.

Fournier nhờ Detring chuyển cho Lý Hồng Chương một văn thư cho biết các điều kiện về phía Pháp để đi đến một cuộc dàn xếp với Trung Hoa: giải nhiệm đại sứ Tăng Kỷ Trạch, từ bỏ ưu quyền đối với Việt Nam, rút lui quân đội Trung Hoa khỏi Bắc Kỳ, và bồi hoàn chiến phí. (Alfred Schreiner, sđd. tt. 371-372.)

Để tỏ thiện chí, triều đình Trung Hoa quyết định chấm dứt nhiệm vụ đại sứ ở Pháp của Tăng Kỷ Trạch, mà vẫn giữ ông ta làm đại sứ ở Anh; và Trung Hoa cử Hứa Cảnh Trừng làm đại sứ tại Pháp, Đức, Ý, Hòa Lan và Áo.

Cuộc nói chuyện tiếp tục, Fournier đến Thiên Tân, gặp Lý Hồng Chương và nhanh chóng ký hiệp ước ngày 11-5-1884, gồm năm khoản, thường được gọi là hiệp ước Fournier hay hiệp ước Thiên Tân, đại để như sau: 1) Pháp hứa tôn trọng biên giới Việt Hoa. 2) Trung Hoa cam kết rút quân khỏi Bắc Kỳ và tôn trọng những hòa ước ký kết giữa Pháp và Việt Nam. 3) Pháp không đòi bồi thường chiến phí. 4) Hủy bỏ những hiệp ước trước đây giữa Trung Hoa và Việt Nam, và nuớc Pháp cam kết không làm tổn hại thể diện Trung Hoa. 5) Hai bên thỏa thuận sẽ gặp nhau lại trong vòng 90 ngày để ký kết hiệp ước chính thức.

Ernest F. Fournier tiếp tục thương lượng với Lý Hồng Chương về thời biểu Trung Hoa rút quân. Ngày 17-5, Fournier trao cho Lý Hồng Chương một giác thư (mémorandum) theo đó Pháp sẽ tiếp thu Lạng Sơn, Cao Bằng ngày 5-6-1884, và Lào Cai ngày 1-7-1884. (Alfred Schreiner, sđd. tr. 362.)

Nhận được tin nầy, trung tướng Millot, tư lệnh lực lượng Pháp ở Bắc Kỳ nghĩ rằng Pháp có thể chiếm đóng vùng Lạng Sơn, Cao Bằng khoảng từ 15 đến 20-6, nên ông cử quân đi tiếp thu Lạng Sơn. Trên đường đi Lạng Sơn, ngang qua thị trấn Bắc Lệ ngày 22-6, đoàn quân Pháp bị quân Trung Hoa tấn công dữ dội và gây thiệt hại nặng nề.

Chính phủ Paris được tin vụ Bắc Lệ, liền ra lệnh cho đại diện Pháp ở Bắc Kinh gởi cho triều đình Mãn Thanh một tối hậu thư ngày 12-7, yêu cầu Trung Hoa phải ra lệnh quân đội mình lập tức rời Bắc Kỳ, hạn chót là 31-7, và triều đình Trung Hoa phải bồi thường 250 triệu quan chiến phí, nếu không Pháp sẽ đánh Trung Hoa.

Phó đề đốc Courbet, đang chỉ huy hạm đội Pháp ở Bắc Kỳ, được cử kiêm luôn chỉ huy hạm đội Pháp ở Trung Hoa, đem quân đến cửa sông Mân ở Phúc Châu (Fou-Tchéou), thủ phủ tỉnh Phúc Kiến (Fukien) ngày 16-7, trong khi một hạm đội Pháp khác đến đảo Cơ Long (Kélung) ở eo biển Đài Loan. Ngày 5-8-1884, Pháp bắt đầu tấn công, gây thiệt hại nặng cho Trung Hoa.

Trên biển, hạm đội Pháp truy lùng và tấn công các tàu của Trung Hoa, phong tỏa cửa sông Dương Tử (Yang-tse), vùng Thượng Hải, và cho đến cuối tháng 3-1885, Pháp làm chủ hoàn toàn quần đảo Bành Hồ (Pescadores) ở eo biển Đài Loan. (Quân sử III, tt. 227-228.)

4. HIỆP ƯỚC THIÊN TÂN LẦN THỨ HAI (9-6-1885)

Trong khi Pháp khó thắng Trung Hoa, thì rõ ràng Trung Hoa thất thế cả ở Trung Hoa lẫn ở Bắc Kỳ. Cả hai bên Pháp và Trung Hoa đều muốn tìm kiếm một giải pháp hòa bình vì hoàn cảnh riêng của mỗi bên. Sau những cuộc thảo luận kéo dài, hai bên dự tính đi đến việc ký kết hòa ước vào cuối tháng 3-1885, thì chính phủ Jules Ferry sụp đổ. Chính phủ Brisson lên thay thế. Bộ trưởng ngoại giao vẫn là Charles Freycinet.

Cuộc đàm phán về một hòa ước mới bắt đầu tại thành phố Thiên Tân từ ngày 13-5-1885 giữa hai bên Pháp-Hoa; kết thúc bằng Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và thương mại ký ngày 9-6-1885 giữa Jules Patenôtre (đại diện Pháp) và Si Tchen, Lý Hồng Chương và Teng Tcheng Sieou (đại diện Trung Hoa). Hòa ước Thiên Tân lần thứ hai nầy gồm 10 điều khoản, có thể được tóm lược như sau:

Trung Hoa đồng ý rút quân về nước (điều 1). Trung Hoa nhìn nhận việc Pháp bảo hộ Việt Nam (điều 2). Hai bên sẽ tiếp tục hòa đàm về vấn đề biên giới Việt Hoa (điều 3). Hai bên sẽ thảo luận về một hiệp ước thương mại (điều 5, 6, 8). Pháp đồng ý rút quân khỏi Đài Loan và Bành Hồ (điều 9). Như thế là chiến tranh Pháp Hoa về vấn đề Bắc Kỳ kết thúc. Bắc Kinh gởi một phái đoàn đến Hà Nội để giúp chấm dứt tranh chấp Pháp Hoa, và đưa quân đội nhà Thanh trở về Trung Hoa.

KẾT LUẬN

Dầu Việt Nam, quốc hiệu của nước ta từ khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802, là một nước độc lập, Trung Hoa vẫn mặc nhiên xem Trung Hoa là thượng quốc và có ưu quyền với Việt Nam. Khi người Pháp xuất hiện, Trung Hoa tự xem có quyền thương lượng với Pháp về Việt Nam, chia phần với Pháp và quyết định số phận Việt Nam. Cho đến khi bị Pháp đánh bại, Trung Hoa đành nhượng bộ, nhưng vẫn không từ bỏ định kiến “thượng đẳng” đối với Việt Nam, và chờ đợi cơ hội để tái lập quyền lực hoặc mưu cầu quyền lợi trên đất nước Việt Nam. Cơ hội đó là việc giải giới quân đội Nhật Bản ở Đông Dương sau thế chiến thứ hai, vào năm 1945.

(Toronto, 24-6-2018)
TRẦN GIA PHỤNG
________________________
Nguồn: Đàn Chim Việt

Lại chuyện về chủ nghĩa Mác Lê và chủ nghĩa Xã hội
12/07/2018

Văn Biển

Có bao giờ người ta tự hỏi, chủ nghĩa Cộng sản, chủ nghĩa Mác đẹp đến thế, muốn tạo nên một thế giới không còn giai cấp, không còn giàu nghèo, vậy mà Cách mạng tới đâu dân bỏ chạy đến đấy.

Sau 1954, hai triệu người di cư vào Nam, một số trí thức chạy sang Pháp. Sau 1975, trên hai triệu người chạy ra nước ngoài. Nếu một chế độ hợp lòng dân, dẫu có đuổi người ta cũng không bỏ nước ra đi bằng mọi giá. Hồi đó người ra đi có câu: Con sống con nuôi má, con chết con nuôi cá.

Cộng sản vô tới Long Khánh ngày 21/4/1975, dân chúng bỏ chạy. Nguồn: Corbis.

Lịch sử dân tộc Việt Nam suốt mấy nghìn năm chưa có thời nào người dân sợ hãi chính quyền đến thế, từ trí thức cho tới dân đen. Người ta kể lúc làm công viên Lê Văn Tám, phải dời cả nghĩa trang. Trong lúc bốc mộ có một người ở miền Bắc, năm 1954 chạy vô rồi chết chôn ở đó. Lúc bốc mộ có người nói vui: Chạy đâu cũng không thoát khỏi Cộng sản.

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc hưu rồi có nói: “Năm 75 có triệu người vui nhưng cũng có triệu người buồn”. Câu nói vào loại hiếm của một người cộng sản có tâm.

Còn điều này nữa, người ta cố tình nhầm lẫn hoặc đánh đồng Đảng là Nhân dân, là Tổ quốc. Ai chống lại sai trái của Đảng là chống lại Nhân dân, chống lại Đất nước, là phản quốc. Đảng độc quyền mọi thứ, từ quyền lực, lòng yêu nước cho tới lẽ phải. Nói như nhà văn Dương Thu Hương, Đảng muốn 90 triệu người dân Việt Nam như một đàn ngựa hai bên mắt bị che lại, chỉ biết đi theo con đường của Đảng đã vạch sẵn, cho dầu không biết con đường đó dẫn mình đi về đâu. Người dân như những con ngựa mù đi giữa rừng đêm mịt mù. Mà càng về sau này chính mấy ông lãnh đạo cũng không biết mình đang đi đâu, về đâu.

André Gide – nhà văn Pháp xuất chúng thế kỷ 20, sau khi đi thăm Liên Xô về đã viết cuốn sách chỉ ra “những hình thái quái đản trong sự sùng bái cá nhân ở Liên Xô”. Cuốn sách nhỏ (Từ Liên Xô trở về, 1936) trong sự nghiệp đồ sộ của André Gide như là một quả bom tấn nổ giữa trời Tây và Xã hội chủ nghĩa Xô Viết: Người ta lên án André Gide (Giải thưởng Nobel, 1947), gọi ông là tên phản động.

Có một câu nói của Ronald W. Reagan: “Làm thế nào để bạn biết người đó là một người Cộng sản? Đó là những người đọc Mác và Lê nin. Và làm thế nào để bạn biết người đó là người chống Cộng sản. Đó là người hiểu Mác và Lê nin”. Thật ra câu này chỉ đúng ở các nước văn minh. Còn ở ta đa số theo Cộng sản nhưng không biết Cộng sản là gì. Chỉ biết nôm na, lấy của người giàu chia cho người nghèo, xã hội không còn giai cấp, không còn người bóc lột người.

Thậm chí các ông lãnh đạo cao cấp trong biệt thự đều có một tủ sách (thường đặt ngay trong phòng khách) trưng bày những tác phẩm kinh điển Mác-Lênin, Angghen, Mao tuyển, nhưng chắc không mấy ai từng mở các cuốn sách gáy dày cộp, bìa bọc vải, chữ mạ vàng ra chứ đừng nói tới chuyện mở từng chương ra đọc. Nó hệt như món hàng trang sức của quý bà sang trọng. Mà có chịu khó đọc cũng chẳng hiểu mô tê gì. Họ không thích đọc vì đọc không hiểu gì. Và họ cũng không có thì giờ, còn bao nhiêu việc khác thú vị hơn.

Trở lại vấn đề này, nếu Đảng cảm thấy tự tin, tự thấy mình là yếu tố không thể thiếu được trong sự tồn vong, hưng thịnh của dân tộc, của Đất nước thì cứ tiến hành đa nguyên, đa đảng đi, để nhân dân được quyền chọn lựa. Nếu nhân dân còn tin thì Đảng tiếp tục vai trò của mình. Nếu dân không tin thì giao phó sứ mệnh thiêng liêng cho kẻ khác.

Có người sẽ nói: Vậy là “cốc mò cò xơi à”? Sao lại nghĩ tới chuyện cốc với cò, mà sao lại có chuyện xôi thịt ở đây. Một khi ta đặt Tổ quốc lên trên hết, Nhân dân lên trên hết, thì ta sẽ thấy vấn đề đó nhẹ nhõm. Thử hỏi mười mấy vị ủy viên Bộ Chính trị và trăm mấy ủy viên Trung ương, có ai thật là Đảng 100%, có vị chưa tới 1%. Có thể nói thẳng, đa số là con số không.

Như lời Tổng Bí thư: “Đảng viên nhan nhản, Cộng sản mấy người, và người Cộng sản có thể đếm trên đầu ngón tay”. Rồi tới lượt con cháu họ học ở các nước Tư bản về, liệu có được 1/1000 chất Cộng sản hay không? Thật ra ai cũng biết, Đảng Cộng sản thật đã chết từ lâu rồi. May mắn hơn Chủ nghĩa Tư bản, Chủ nghĩa Cộng sản không trải qua thời kỳ “giẫy chết”. Liên Xô chết một cái chết tất tưởi, cả châu Âu và thế giới bất ngờ.

Trở lại chuyện cốc mò cò xơi. Các anh có ai dám tự xưng mình là cốc không? Một chút máu Cộng sản cũng không có vì các anh cũng chẳng ngu gì, không biết Cộng sản đã chết từ lâu rồi. Còn xã hội chủ nghĩa là không tưởng, không hề có ở quá khứ, không có ở hiện tại, càng không có ở tương lai. Các anh mượn cớ để duy trì cái ghế của mình.

Nếu có chuyện ‘cốc mò cò xơi’ thì chính ngay bản thân các ông đang ngồi trên ghế lãnh đạo bây giờ và các con cháu họ mai kia đang xơi tái cả đất nước này một cách không thương tiếc.

Lẽ ra lịch sử Việt Nam đã sang trang, nếu người kế nhiệm sau Lê Duẩn, Trường Chinh có một cái đầu khác và có tâm biết tận dụng thời cơ có một không hai nhân lúc chủ nghĩa Xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, lái con thuyền Việt Nam rẽ sang một bước ngoặt khác. Rất tiếc viên thuyền trưởng lúc ấy lại là Nguyễn Văn Linh, vẫn sống chết cố bám lấy Xã hội chủ nghĩa cho tới lúc ông ta chết. Chân lý đôi khi rất đơn giản, nó gắn liền với nhu cầu cuộc sống của người dân, họ biết chọn cho mình cái gì cần chọn. Và biết tránh cho mình những cái gì cần tránh, trước hết là tránh các cuộc chiến tranh khốc liệt.

Nếu để người dân bình thường được quyền tự chọn, họ đã từ bỏ chủ nghĩa Xã hội từ lâu rồi, và họ cũng không cần cái đuôi ‘kinh tế thị trường’ định hướng tùy tiện nữa. Để được quyền chọn cách sống của mình, người dân thường sáng suốt rõ ràng, thực tế, đơn giản hơn nhiều. Vì miếng cơm manh áo, cuộc sống bình thường hàng ngày của bản thân và gia đình.

Từ khóa: Văn Biển
______________________
Nguồn: danluan.org

Bản tin trên Soha.vn (07.07.2018)

Trong vai một người dân cần công chứng giấy tờ, Bí thư huyện bị cán bộ xã trợn mắt, hất mặt quát “có việc gì”

 

Trong vai một người dân, Bí thư huyện bị cán bộ xã trợn mắt, hất mặt quát "có việc gì"

Trong vai một người dân, ông Nguyễn Hữu Quế (Bí thư huyện ủy Ia Grai, Gia Lai) đã “vi hành” để kiểm tra lề lối làm việc của cán bộ UBND xã Ia Pếch.
_______________________________________________________________________________________
Bàn không loạn của Lão người thượng:
Nhiều nơi trên đất Việt, sau 1975, ta dễ có ‘may mắn’ gặp được các ông quan rất hách-xì-xằng (phi trường, bến xe, trụ sở phường, cơ quan công an,…).  Các quan này ưa ăn to, nói lớn/hét lớn, và khi  im tiếng thì cặp mắt các quan ấy… lừ lừ khiến dân thường nhìn thấy…phát khiếp!