Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn hoá – xã hội’ Category

Những nhà khoa học chân chính đều nói ‘không’ với Marx!

Tác Giả:

Bùi Tín
 20/05/2018

GS Phan Đình Diệu và GS Nguyễn Đăng Hưng, tại Hội Thảo Hè 2008, Nha Trang. (Hình: FB Nguyễn Đăng Hưng)

Nhà Toán học kiệt xuất Phan Đình Diệu vừa từ giã chúng ta ở tuổi 83. Tôi ngẩn ngơ luyến tiếc một người bạn thân thiết rất đáng tin cậy và yêu thương, như từng tiếc thương nhà thơ Nguyễn Chí Thiện mấy năm trước.

Anh là nhà Toán học khi còn trẻ đã có công lớn đưa mạng lưới Internet vào Việt Nam, xây dựng từ đầu Viện Tính toán và Điều khiển. Anh là nhà khoa học được cả giới toán học, khoa học hâm mộ, được mời vào Đảng nhưng anh khước từ vì anh cho rằng nhà khoa học chân chính luôn có tư duy độc lập không thể hạ mình a dua với những học thuyết phản khoa học như học thuyết của Marx…

Ở anh nỗi buồn dai dẳng, niềm uất hận khôn nguôi là chính kiến của anh và các nhà khoa học khác từng thể hiện trên các bài báo, kiến nghị đều không được cơ quan lãnh đạo mảy may quan tâm, trả lời, một sự bác bỏ thẳng thừng từ trước, điều mà anh gọi là « bi kịch không được lắng nghe », « như nói chuyện với người điếc », « như nước đổ lá khoai ». Anh tự tin, còn nước còn tát, không buông xuôi, phát biểu trên báo đài, trong Quốc Hội, trong các cuộc họp khoa học, trả lời phỏng vấn, nhưng không chống lại nổi cái « tà thuyết mác-xít » mà Liên Xô và Đông Âu đã được giải thoát. Đây là niềm đau tinh thần lớn nhất của anh khi từ giã cuộc đời này.

Anh có niềm tin tuyệt đối ở khoa học, trước hết ở khoa Toán là khoa học cơbản nhất làm cơ sở cho các khoa học khác. Theo anh chính trị phải là một khoa học, phải theo những quy luật của luận lý và đời sống xã hội, không thể theo tham vọng của cá nhân lãnh đạo thường hay lầm lạc, xa rời thực tế và đời sống.

Anh cho rằng các nhà toán học kiệt xuất nước ta, từ Tạ Quang Bửu, Nguyễn Cảnh Toàn, Hoàng Tụy, Lê Bá Khánh Trình cho đến Ngô Bảo Châu, Hoàng Xuân Phú… đều rất kỵ với học thuyết mác xít sùng bái bạo lực, không tin ở trí tuệ, trí khôn, ở luận lý để lý giải các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Đó là tà thuyết không thể đổi mới, chỉ có bác bỏ, quên đi, đào sâu chôn chặt.

Anh luôn mang theo niềm tin rằng tư duy khoa học, minh mẫn, tỉnh táo sáng tạo sẽ cứu vãn mọi bi kịch do các tà thuyết chính trị gây nên, từ học thuyết phát xít của Hit-Le và các học thuyết của Mác-Lênin, Mao gây nên. Anh rất quý nhà khoa học Nguyễn Xuân Tụ (Hà Sỹ Phu) với bài luận văn « Đi theo bảng chỉ đường của trí tuệ ». Bài viết của anh « một lộ trình cho dân chủ hóa » từ năm 2006 cho đến nay vẫn nguyên vẹn giá trị.

Nhân có chuyện nhà toán học, khoa học kiệt xuất của đất nước Phan Đình Diệu đi xa, mong rằng Bộ Chính trị, nhất là ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng quan tâm chú ý đến sự luyến tiếc, tin yêu của giới trí thức, khoa học chân chính, của tuổi trẻ, giới chính trị yêu nước đối với nhà khoa học chân chính Phan Đình Diệu để cùng nhau giã từ cái tà thuyết mác xít phản khoa học, phản trí tuệ, phi nhân bản và phản dân chủ.

Xin bà con ta đặt 2 nhân vật Phan Đình Diệu và Nguyễn Phú Trọng lên bàn cân để so sánh. Một tư duy trẻ khỏe, sẵn sàng tranh luận công khai, lấy công luận làm trọng tài, một tấm lòng ưu ái với dân với nước, có trí tuệ minh mẫn, cuộc sống trong sáng vô tư vì lẽ phải chân lý. Bên kia là cụ già lụ khụ, chỉ biết tụng bài kinh 7 kiên trì (kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên trì chế độ toàn trị độc đảng, kiên trì mô hình thống nhất 3 quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, kiên trì phủ nhận Nhà nước Pháp quyền, kiên trì quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thay mặt quản lý, kiên trì lấy sở hữu quốc doanh làm chủ đạo, kiên trì khuất phục trước bọn bành trướng Trung Quốc). Một cụ già 73 tuổi, sức yếu, già lụ khụ nói năng lẩm cẩm, cầm đầu vụ bắt cóc quốc tế, bị chủ nhà bắt quả tang với đầy đủ chứng cứ, nhân chứng vật chứng, tay nhúng chàm, vẫn chối bây bẩy, lại còn muốn ở lỳ trên vị trí tối cao quyền lực không thời hạn.

Theo tôi, xin thật lòng, tôi cho rằng nhà toán học Phan Đình Diệu xứng đáng là cố vấn, là bậc thầy chính trị của ông lão già nua « giáo sư xây dựng đảng » Nguyễn Phú Trọng.

Bùi Tín

Advertisements

Read Full Post »

Cuộc Nổi Dậy của Khoa Học – Chương 3
Tác giả: Amir D. Aczel
Chuyển ngữ: SĐ-NTC

Qua nhiều thế kỷ, tôn giáo khoác một vai trò tâm linh và đạo đức trong đời sống con người và cũng bắt đầu càng ngày càng dựa vào siêu nhiên. Điều này ngăn trở những tiến bộ trong khoa học tự nhiên trong nhiều thế kỷ. Nền văn minh Hy Lạp đã có những ý tưởng tiến bộ về thế giới tự nhiên – gồm cả khái niệm của Democritus về những nguyên tử và cái nhìn hệ thống mặt trời (thái dương hệ) là trung tâm đưa ra bởi triết gia Philolaus vào thế kỷ thứ tư trước C.N.. Khi nền văn hoá lớn lao này suy bại và thế giới chìm vào Thời Đại Tăm Tối (the Dark Ages), Kinh Thánh khoác vai trò giải thích chân lý, và người ta tránh xa suy tưởng tự do (freethinking). Kiểu tư duy này kéo dài cho tới cuối Thời Kỳ Trung Cổ ( late Middle Ages), trong khi không kể tới một vài phát triển những khái niệm thô ráp về y học ( phần lớn chúng sai lầm, chẳng hạn như lối điều trị bằng cách làm cho chảy máu để trị những bệnh khác nhau) những dự tính theo đuổi khoa học có rất ít. Bước trật ra ngoài niềm tin đã thành định chế là không được khoan nhượng trong một nền văn hoá do giáo hội và các vua chúa Công Giáo ngự trị. Nói đơn giản là không được tranh luận về “trật tự mọi sự-mọi vật “ (“order of things”).

Loại luận lý này (lô-gíc) kéo qua thuyết trái đất là trung tâm. Niềm tin rằng Trái Đất là trung tâm của vũ trụ là một nguyên tắc căn bản, được ‘bao bọc kỹ càng’. Lý thuyết này tìm được giải thích “khoa học” của nó về chuyển động của mọi vật thể thấy được trong hệ mặt trời không phải từ trong Kinh Thánh, nhưng qua công trình của Claudius Ptolemy (90 sau C.N. – 168 sau C.N.), một nhà vũ trụ học và toán học sống ở thành phố Alexandria trong giai đoạn hoàng hôn của nền văn minh cổ Hy Lạp.

Trong luận án của ông Almagest (“Công Trình Lớn”) Ptolemy đã phác hoạ một mô hình hệ thống mặt trời mà Trái Đất vẫn được giữ như trung tâm của sáng tạo và được giải thích bằng toán học mọi chuyển động của các hành tinh và mặt trăng, cũng như chuyển động (biểu kiến) của mặt trời quanh Trái Đất. Vào thời Trung Cổ, “thế giới quan kiểu Ptolemy” được ‘đào-hào-đắp-lũy’ như một phần của giáo điều như các Thánh thư (Gospels).

Hệ thống của Ptolemy vận hành ra sao? Vì các hành tinh cho thấy chuyển động giật lùi trên trời – nghiã là nhiều lúc một hành tinh hình như chạy giật lùi, vì hành tinh của chúng ta chạy qua nó trên quỹ đạo của mình quanh Mặt Trời – Ptolemy đặt chúng là epicycles (những chu kỳ trong những chu kỳ). Như thế thì mặt trời trực tiếp chạy vòng quanh Trái Đất, nhưng những hành tinh khác cũng chạy vòng quanh Trái Đất, chúng tuần tự xoay quanh theo một vòng tròn khác nhỏ hơn mà trục nằm trên quỹ đạo chính. Bằng cách này Ptolemy đã gán cho chuyển động giật lùi của các hành tinh khi chúng xuất hiện trên bầu trời đêm.

Điều thú vị nơi đây là mô hình này được việc! Nó “giải thích” mọi chuyển động của các thiên thể quanh chúng ta. Không may là nó sai lầm hoàn toàn. Hệ thống Ptolemy chứng tỏ là ta có thể dựng ra những hệ thống hết sức phức tạp hình như để giải thích một hiện tượng. Mô hình thật trong trường hợp hệ thống mặt trời của chúng ta, dĩ nhiên là mô hình của nhà vũ trụ học, toán học và luật học người Ba Lan có tên Nicolas Copernicus (1473-1543) để lại cho chúng ta vào giữa thế kỷ thứ mười sáu.

Những khác biệt giữa hai giải thích toán học về hệ mặt trời là gì? Ngoài sự kiện là quan sát trực tiếp xác nhận mặt trời ở trung tâm của hệ thống mặt trời và mọi vật khác xoay chung quanh nó, mô hình của Copernicus đơn giản hơn và tinh tế hơn – nó đòi ít giả thuyết hơn. Theo nguyên lý lưỡi dao của Occam, giải thích đơn giản nhất cho một hiện tượng có lẽ là giải thích đúng. Một mô hình tốt giải thích nhiều về thế giới không dùng tới quá nhiều giả thuyết – như những chu kỳ trong những chu kỳ – và không dùng đến quá nhiều khái niệm và công cụ phức tạp. Einstein đã làm một nghệ thuật sáng tạo kiểu mô hình này; ông đã có lần nói, “Một lý thuyết khoa học cần phải càng đơn giản càng tốt.” Những cái tối cần thiết phải có trong mô hình, nhưng không gì quá tỉ mỉ, quá phức tạp nếu không dùng cho một mục đích rõ ràng. Những lý thuyết của Einstein về luật tương đối chung và đặc biệt là những mô hình của thiên tài.

Lý thuyết của Copernicus đánh dấu sự chấm dứt mô hình Ptolemy về hệ mặt trời, ghi dấu cách con người đã nghĩ gì về vũ trụ trong một thiên niên kỷ rưỡi. Mô hình của ông đơn giản hơn nhiều và đã giải thích chuyển động của những hành tinh và của mặt trăng, và chuyển động biểu kiến của mặt trời trên bầu trời, hay hơn Ptolemy đã làm.

Vào năm 1543, năm ông mất, Copernicus đã xuất bản cuốn sách đáng ghi dấu mốc (lớn) của ông. Đó là cuốn De Revolutionibus Orbium Coelestium (Về những chu kỳ của các thiên thể). Copernicus đã từng học ở Kraków và sau này ở Đại học Bologna – trường đại học xưa nhất trên thế giới, được dựng lên vào năm 1088 – cũng như ở Padua. Ở Padua ông đã thực hiện những quan sát thiên văn về các vì sao và hành tinh và nghiên cứu những công trình của những nhà toán học và các triết gia người Hy lạp, và quan tâm đặc biệt tới lý thuyết của Ptolemy. Ông dần dần thấy chắc chắn là mô hình của Ptolemy về hệ mặt trời không thể nào đúng được. Một mô hình đơn giản hơn nhiều với tất cả sự hiển nhiên thiên văn theo một cách tự nhiên và tinh gọn là mô hình đặt mặt trời vào trung tâm của hệ thống.

Copernicus đã viết bình luận dài bốn mươi trang giải thích mô hình lấy mặt trời làm tâm điểm. Rồi, với sự thôi thúc của người môn đồ của ông là nhà toán học người Áo Georg Joachim Rheticus, ông đã đồng ý in thuyết của ông thành sách. Cuốn De Revolutionibus đã được khai sinh như thế. Không may là Copernicus đã mất vào lúc sách được ấn hành. Ông nổi tiếng là người đã cầm bản in đầu tiên khi ông bình an qua đời ở trên giường. Ông có nhiều phần hiểu rõ là sách của ông đánh dấu nền khoa học tân tiến.

Copernicus không có ý chống đối những người có tôn giáo. Ông chỉ hiểu cách đơn giản rằng mặt trời là trung tâm của hệ mặt trời, và ông muốn mọi người biết đến điều này. Qua các thành viên trong gia đình, ông có những mối liên hệ gần gũi với các chức sắc Công giáo, và việc in sách đã được sự giúp đỡ của một người thuộc giáo hội Luther, là Andreas Osiander.

Nhưng cuốn De Revolutionibus hầu như không ai biết đến khi nó xuất hiện. Còn xa lắm nó mới châm ngòi cho một cuộc xung đột giữa tôn giáo và khoa học, nó thoát khỏi mọi dò la; và dẫu có thế nào thì tác giả cũng đã qua đời. Tư tưởng cách mạng của Copernicus tuy vậy không thể che đậy được, khi một thiên tài khác nắm bắt được nó.

Có lẽ là hơn bất kỳ một nhà khoa học nào trong lịch sử, Galileo Galilei (1564-1642), thiên tài của Thời kỳ Phục hưng (the Renaissance) là người đã chịu trách nhiệm đối với không biết bao nhiêu khám phá lớn về vũ trụ vật lý, cô đọng lại cuộc xung đột gay gắt bùng nổ giữa tôn giáo và khoa học. Galileo cũng còn xa mới là người chống lại tôn giáo. Thực tế, một trong những người con gái của ông là một nữ tu, và ông chưa từng xa cách những nhóm tôn giáo qua quen biết và bằng hữu – ngay cả giáo hoàng có hiểu biết về toán cũng có thiện cảm với ông.

Galileo có trí tuệ sâu sắc, ưa tìm hiểu trong lịch sử, và tra vấn suốt đời ông là giải mã những luật của thiên nhiên, bất kể tới những gì mà người đời, sách vở, Kinh Thánh, hay giáo hội nói ông ‘nên/phải’ tin về thiên nhiên. Galileo đã làm thí nghiệm nổi tiếng với những vật đang rơi hoặc xoay tròn, và ngay cả việc bỏ rơi xuống các vật ấy từ đỉnh Tháp Nghiêng của quê Pisa của ông.

Những thí nghiệm sớm sủa ( thời kỳ đầu) của ông đã dễ dàng bóc trần tin tưởng từ nhiều thế kỷ, phát xuất từ Aristotle, rằng các vật rơi nhanh chậm tương ứng với trọng lượng của chúng. Thực tế là nếu không có sức cản của không khí thì ai cũng biết là chiếc lông sẽ rơi xuống đất cùng lúc với miếng chì cùng trọng lượng ( sức cản của không khí làm lông vũ chậm lại rất nhiều, mà đây là tại sao mà chim có thể bay được).

Vào năm 1609, ngay sau khi viễn vọng kính được phát minh ở Hoà Lan, Galileo nhận được một cái, rồi tạo dáng vài cái làm riêng của ông. Trước tiên, ông bán vài cái mới này cho cộng hoà độc lập Venice, giúp cho những người lãnh đạo của hải quân chống lại những cuộc tấn công có thể xảy ra từ ngoài biển bằng cách dùng viễn vọng kính rà soát đường chân trời từ gác chuông của Quảng trường St. Mark. Nhưng phát minh ấy không bán chạy, và Galileo bắt đầu hướng viễn vọng kính vào bầu trời đêm. Ông lập tức tìm ra một trong những khám phá quan trọng nhất trong lịch sử, khiến ông được công nhận là cha đẻ của khoa vũ trụ học. ( Ông cũng được xem là cha của khoa học tân tiến).

Vào 7 tháng giêng, 1610, Galileo quan sát Jupiter và khám phá ra bốn trong những vệ tinh của hành tinh vĩ đại này, nay chúng được đặt tên mà người ta gọi là những mặt trăng của Galileo (Ganemede, Callisto, Europa, và Io). Đây là những thiên thể xoay quanh một thực thể khác hơn là Trái Đất, khi Galileo kết luận trải qua một vài đêm quan sát, nhìn thấy những mặt trăng đổi mặt khi chúng chạy quanh hành tinh. Khám phá này rõ ràng là ngược lại với niềm tin vào giải thích vũ trụ của Ptolemy của Giáo hội Công giáo rằng mọi thiên thể đều xoay quanh Trái Đất.

Nhưng phát súng ân huệ đã tới chỉ trong vòng tám tháng, vào tháng chín năm 1610, khi Galileo quan sát hành tinh Venus và ghi nhận nó đã đi qua các tuần trăng (phases) đầy đủ, giống như mặt trăng. Theo mô hình của Ptolemy, dựa trên những chu kỳ trong chu kỳ (epicycles), chúng ta chỉ có thể thấy một vài tuần trăng trong những tuần trăng của Venus: hoặc những trăng lưỡi liềm ( nếu nó ở bên trong của quỹ đạo của mặt trời chạy quanh quả đất) hoặc chỉ những trăng đầy và toàn kỳ (nếu nó nằm phiá ngoài của quỹ đạo mặt trời) – không khi nào cả hai được. Sự kiện ta có thể thấy mọi tuần trăng của Venus, như ta thấy với mặt trăng, đối với Galileo có nghiã là mô hình Ptolemy không thể đúng.

Hơn thế, mô hình của Copernicus về hệ thống mặt trời (hệ thái dương) là hệ thống phản ánh thực tại.

Galileo bắt đầu cho xuất bản những khám phá của ông thành sách gây bối rối cho Giáo hội. Ông dần dà húc vào Toà Hình Án La mã (Roman Inquisition), đặc biệt là khi cuốn sách của ông Dialogue Concerning the Two Chief World Systems ( Đối thoại liên hệ tới hai hệ thống chính của thế giới) xuất hiện vào năm 1632, trong đó ông diễu nhại giáo hội và sự ủng hộ tích cực của giáo hội đối với mô hình trọng tâm là trái đất (geocentric) bằng cách đưa ra những ý kiến này qua miệng của Simplicius, nhân vật ngu khờ trong đối thoại. Giáo hội đã đề nghị cho Galileo cư trú ở vùng tự trị Venice nhưng ông chọn ở lại quê nhà Tuscany, mà các vương hầu liên minh chặt chẽ cũng như chịu ảnh hưởng của La Mã.

Hiển nhiên là những người cai trị ở Tuscany không thể bảo vệ Galileo khỏi bị dẫn độ về đối diện với Toà Hình Án kinh khủng ở La Mã. Toà này từng ra án tử nhiều nhà tư tưởng độc lập vì những ý tưởng trái ngược với hiểu biết chính thức của Công Giáo về vũ trụ. Dẫu là Giáo Hoàng Urban III có thiện cảm với ông thì vị giáo hoàng này cũng không thể ngăn được Toà Hình Án xử Galileo. Vụ xử ô nhục này xảy ra vào tháng hai năm 1633. Dưới đe doạ bị tra tấn, Galileo đã công khai chối bỏ ý kiến ‘dị giáo’ về mặt trời là tâm điểm (heliocentric), có thể ông vẫn còn lắp bắp “Eppur si muove” ( “Still, it moves!” – Nó vẫn còn di động!) và bị quản thúc suốt đời ở biệt thự của ông ở Arcetri, bên ngoài Florence.
Cuộc phán xử Galileo, hơn bất cứ một biến cố nào khác trong lịch sử, đã thành tượng trưng cho sự tách rời rõ ràng giữa khoa học và đức tin, một xung đột tiếp tục dữ dội (đến một mức độ, và dưới hình thái rất khác) trong thời đại chúng ta.

Galileo còn hoàn tất một cột mốc khác nữa: ông đã tạo ra liên kết quan trọng giữa toán học và khoa học. Phát biểu nổi tiếng của Galileo “Cuốn sách về thiên nhiên được viết bằng ngôn ngữ toán học” đã là biểu đồ của một tiến trình chung cho vật lý và toán học. Tiến trình này tiếp tục và mạnh lên vào thời của chúng ta và cả vào tương lai có thể thấy trước được.

Nhưng Galileo cũng đã có một khám phá chính trong toán học thuần túy. Bị quản thúc ở Arcetri cho đến cuối đời, Galileo đã nghĩ tới số vô tận (infinity) và nhận biết là những số lượng vô tận (infinite quantities) có những đặc tính rất lạ. Galileo xem xét chuỗi vô tận của mọi số nguyên tố dương (1,2,3,4,5…) và chỗi vô tận của mọi số nguyên tố bình phương (1,4,9,16,25…). Cả hai chuỗi đều là vô tận, nhưng ta có thể vẽ một tương thích một-đối-một giữa mỗi thành tố của chuỗi thứ nhất với một thành tố độc nhất của chuỗi kia. Như thế, Galileo đã xứng hợp 1 với 1, 2 với 4, 3 với 9, 4 với 16, 5 với 25, và cứ thế tiếp tục. Cũng thế, có nhiều số vô số trong mỗi chuỗi, khi mà chuỗi các số nguyên bình phương rõ ràng là chuỗi phụ của mọi số nguyên tố ( vì các số nguyên tố được bình phương cũng là những thành tố của chuỗi số nguyên tố), Việc ứng hợp một-đối-một của mỗi số nguyên tố với các số nguyên tố bình phương cho thấy có “cùng một số” của các số nguyên tố cũng như của những số nguyên tố bình phương. Chúng ta nói rằng hai chuỗi số vô tận có cùng “cỡ” (cardinality). Chúng ta sẽ quay lại khám phá này ở phần sau của sách này.

Tiếp theo những khám phá vũ trụ (thiên văn) cực kỳ quan trọng của Galileo, những nhà vũ trụ học nghiêm túc không thể quan niệm trái đất là trung tâm được, và vì thế người ta đi đến một ‘giải pháp’ trung dung, để không nghịch lại với giáo hội, các hành tinh chạy quanh mặt trời, nhưng mặt trời và các hành tinh của nó quay quanh Trái Đất. Mô hình lai tạo này là mô hình được nhà vũ trụ học người Đan Mạch Tycho Brahe giữ lại, là người đã quan sát nhiều hành tinh và các vì sao (stellar), trước tiên ở Hven, một đảo vua Đan Mạch đã cho đất dành cho đài quan sát của ông, và sau này ở Prague, nơi ông chuyển tới để tiếp tục công trình của mình.

Khối lượng khổng lồ các dữ kiện về vị trí của những vì sao và hành tinh do Brahe thu thập được người phụ tá của ông là nhà toán học nổi bật người Đức Johannes Kepler sử dụng, để suy ra những định luật về hành tinh di động của ông ta – trong một mô hình hoàn toàn, là mặt trời là trung tâm. Những định luật của Kepler chính xác đến mức ngày nay, bốn thế kỷ sau, người ta vẫn còn sử dụng, trong công trình vũ trụ, gồm cả xác định quỹ đạo của những hành tinh nằm ngoài hệ mặt trời (hệ thái dương) mới được khám phá.

Cũng như Copernicus và Galileo đều không có ý định tìm cách tách khoa học khỏi tôn giáo và vẫn giữ mối liên hệ gần gũi với những người của đức tin suốt trong cuộc đời họ, Kepler cũng không theo đuổi công trình khoa học với ý định thách thức niềm tin. Giáo Hội Công Giáo, có phần khác hơn thế, với cách tiếp cận chặt chẽ từng câu từng chữ đối với Kinh Thánh và với sự gắn bó dài nhiều thế kỷ với triết học của Aristotle mới chính là phe gây chiến trong cuộc tranh cãi sâu xa này.

Công trình của Kepler là điềm báo phát minh ra phép tính (calculus) của Newton và Leibniz trong thế kỷ sau. Trong khoa học, cả hai một người là nhà vũ trụ học và người kia là nhà chiêm tinh (astrologer) – vào những thế kỷ mười sáu và mười bảy, khoa học và khoa huyền bí vẫn còn có phần lẫn lộn với nhau. Sự pha trộn khoa học, tâm linh, và huyền hoặc ta thấy trong công trình của Descartes, là người có đóng góp nhiều vào toán học, khoa học, và triết học trong thế kỷ thứ mười bảy.

Descartes sanh ngày 31 tháng ba, 1596 trong gia đình giàu có thuộc tầng lớp quý tộc Pháp. Ông sinh ra ở thành phố La Haye ( nay đổi thành Descartes nhằm vinh danh ông), vùng Touraine, miền tây nước Pháp, gia đình sinh sống ở vùng Poitu kế cận. Thời còn nhỏ ông qua lại giữa hai vùng ấy. Touraine và Poitu rất khác nhau. Trong khi Poitou phần lớn là Tin Lành, thì Touraine Công Giáo là áp đảo, như phần lớn nước Pháp hiện nay. Sống giữa hai phe đối nghịch về tôn giáo tác động đến cảm thức của Descartes về tôn giáo và xã hội trong suốt cuộc đời ông. Một thí dụ chính của việc này là nỗi sợ thái quá của ông với Toà Hình Án Công Giáo (the Inquisition) và những gì họ có thể làm với ông nếu ông cho xuất bản những bài về khoa học trái nghịch với học thuyết của giáo hội, thêm vào đó là sự thiếu quan tâm đến dại dột khiến (có thể) châm mồi lửa giận dữ của Tin Lành.

Descartes học ở Đại Học Dòng Tên La Flèche (the Jesuit College of La Flèche) miền trung-tây nước Pháp. Ông còn xa mới là người chống tôn giáo. Bạn thân nhất của ông là thầy tu Marin Marsenne, làm việc văn phòng vừa thích toán học lẫn khoa học mà ông gặp khi cả hai là sinh viên của La Flèche. Theo người biên tập tiểu sử Stephen Gaukroger của ông, Descartes vẫn là người Công Giáo đến cuối đời.

Descartes du lịch nhiều nơi, thường tham gia những chiến dịch quân sự như một người lính tình nguyện. Ông đã tham dự vào cuộc vây hãm Prague và những chiến dịch khác – được cả hai phe Tin Lành và Công Giáo sử dụng trong Trận Chiến Ba Mươi Năm chống nhau giữa hai phe. Trong một chuyến du hành về miền nam nước Đức, ông đã gặp nhà toán học và huyền học (thần bí học) Johann Faulhaber. Faulhaber đã chỉ cho Descartes một vài việc trong công việc của ông về phương trình, và như là một hậu quả Descartes sau này đã chấp nhận một ký hiệu huyền bí. Chẳng hạn như ông đã dùng dấu Jupiter ( chú của SĐ-NTC: dấu này giống như số 2 gắn liền vào số 4) trong những thủ thuật về đại số của ông (algebraic manipulations).

Triết gia và toán học gia Blaise Pascal, cùng với toán học gia (nhà toán học) Pierre de Fermat đã hình thành lý thuyết xác suất, là bạn của Descartes. Pascal đã có đóng góp lớn vào vật lý học và toán học, và là người có tinh thần tôn giáo sâu sắc. Ông nổi tiếng vì đã tỏ bày điều đánh cược của Pascal, một lý luận lừng lẫy cho việc tin vào Thượng Đế (Thiên Chúa) trên cơ sở (có phần bất nhẫn) rằng chọn khác đi thì quá rủi ro; nếu anh tin, và Thượng Đế không hiện hữu, theo lý luận của Pascal anh chẳng phải trả giá nào (hay ít nhất là không phải trả giá đắt); nhưng nếu không tin vào Thượng Đế và ‘Ngài’* hiện hữu, thì cái giá anh phải trả là hình phạt muôn đời.

Cả Fermat lẫn Descartes đều có đọc những công trình của Euclid, được dịch ra tiếng La-tinh, và học được từ những công trình này túi khôn của người cổ Hy Lạp. Họ cũng nghiền ngẫm những công trình của Galileo. Cả hai mở rộng việc học toán-vật lý của những người Hy Lạp cổ xưa, cũng như của những người gần thời với họ là Copernicus, Kepler, và Galileo, cho tới sắp đặt mới của thế kỷ mười bẩy với khoa vật lý sánh bước cùng toán học, tạo ra những lối đi mới.

Khi ông nghiên cứu về thế giới vật thể (physical world), Descartes trở nên bị ám ảnh với Toà Hình Án ( the Inquisition). Ông nhận thức được những việc Galileo làm và quyết không gặp phải số phận tương tự. Trong một bức thư gửi cho bạn Marin Mersenne của ông, thầy tu, nỗi sợ của ông nếu ông cho xuất bản một công trình chứng tỏ là Trái Đất quay quanh mặt trời, khác với quan điểm trái ngược của học thuyết của giáo hội, ông sẽ bị Toà Hình Án truy lùng. Ông đã viết một cuốn sách gọi là Le Monde nhưng từ chối không xuất bản vì nó có những cách nhìn như vậy. Để bảo vệ mình, trong những chuyến đi Descartes chỉ tiếp xúc với Mersenne, và thường bỏ thư ở những nơi lân cận, chứ không ở ngay nơi ông ở.

Năm 1628 rõ ràng là vì sợ Toà Hình Án ông quyết định rời qua Hoà Lan dẫu là vua nước Pháp đã ban tặng ông những ưu đãi đặc biệt như triết gia và khoa học gia lỗi lạc. Càng ngày càng bị ám ảnh với số phận của Galileo sau khi biết tin về vụ xử án năm 1633 của Toà Hình Án, Descartes luôn thay đổi điạ chỉ, sống ở những thành phố khác nhau ở Hoà Lan.

Năm 1637, cuối cùng Descartes xuất bản tác phẩm bậc thầy của ông Discourse on the Method (Phương Pháp Luận) chứa đựng tinh yếu triết học của ông. Cuốn sách cổ điển này có một phụ lục gọi là La Géométrie (Hình học), viết chi tiết về công trình của Descartes kết hợp hình học với đại số và giới thiệu ý tưởng tối thiết của hệ thống định vị của Descartes ( Cartesian coordinate system).

Những ý tưởng của ông khiến ông nổi tiếng toàn châu Âu – nhưng cũng thu hút đến ông nhiều kẻ thù. Năm 1647 ông bị những nhà thần học Tin Lành kết tội là vô thần, mà ông chắc chắn không phải là vậy.

Khi Descartes bảo vệ quan điểm của mình bằng bản in, ông lại bị cho là phỉ báng. Một toà án đã phán quyết chống ông, và ông phải viết một lá thư xin lỗi nhục nhã đến nhà thần học đã công kích ông. Bị tổn thương nặng nề, ông quyết định rời qua Thụy Điển, và mất tại đó vị bệnh cúm – hoặc có thể là bị những kẻ chống đối đầu độc; nguyên nhân cái chết của ông vẫn còn là điều bí ẩn. Sau khi ông mất, Nữ hoàng Christina của Thụy Điển, tuyên dương ảnh hưởng của Descartes, đã xin theo Công Giáo.

Descartes là một nhà khoa học vật lý và toán xuất sắc, người vẫn giữ đức tin vào Thiên Chúa và không thấy giằng co nội tâm giữa khoa học và tôn giáo, dù ông gặp khó khăn suốt đời. Descartes đưa những tra vấn vật lý của Galileo đến một tầm mức hoàn toàn mới. Ông hiểu là Trái Đất quay tròn, và ông cũng biết chúng ta chẳng phải là trung tâm của vũ trụ. Như vậy ông thắc mắc về cách nệ-câu-chữ của giáo hội và hiểu rằng thực tại không tuân theo những niềm tin của giáo hội. Những ý tưởng khoa học làm rúng động điạ cầu của Descartes được những học giả sau này đeo đuổi.

Vào năm mười hai tuổi, triết gia, chính khách, và nhà toán học người Đức Gottfried Wilhelm Leibniz (1646-1716) đã thông thạo về cổ Hy Lạp, đã tự giải mã ngôn ngữ bằng cách đọc Plato và Aristotle; việc này đưa ông vào luận lý và khơi dậy trong ông niềm đam mê về những nền tảng của lý trí thuần túy. Cùng lúc, ông cũng thấy thích thú về thần học.

Vào năm 1661, Leibniz ghi danh vào Đại Học Leipzig, ở đó ông nghiên cứu những công trình của những người đương thời Hobbes, Bacon, và Galileo. Năm 1663, ông trình luận án của mình, “De Principio Individui”, xét về những ý tưởng của những cá thể và toàn thể (totality). Điều này dẫn tới quan niệm của ông về (cái gọi là) monad. Sự truy tìm của ông là để trả lời câu hỏi chính từ thời Hy Lạp xưa: Không gian là gì? Điểm là gì? Đường thẳng là gì? Mặt phẳng là gì? Những vật ba-chiều là gì? Những mô-nát (monads) nhắm trả lời những câu hỏi này bằng cách định nghiã theo cách trừu tượng thành phần (element) căn bản của không gian. Một mô-nát, giống như một điểm trong hình học Hy Lạp, là cái gì đó không có gì nằm trong nó: không dài, không rộng, không cao, không gì trong nó. Nhưng nó còn trừu tượng hơn thế và nới rộng vào môn siêu hình bằng cách cũng định nghiã ideas (ý tưởng) theo cách rất tổng quát. Mô-nát là thành phần căn bản trừu tượng nhất của mọi vật cả trong thế giới vật thể lẫn tâm linh.

Là người theo Tin Lành chịu ảnh hưởng qua kết giao với những ông hoàng Công Giáo, Leibniz bị thu hút vào ý tưởng dung hoà những tôn giáo ở châu Âu như là cách hiệp nhất mọi người trên lục điạ. Vào năm 1668, Leibniz viết một luận án về sự hiện hữu của Thiên Chúa (Thượng Đế) và sự bất tử của linh hồn. Có tựa là “ Nature’s Testimony Against the Atheists,” (Bằng Chứng của Thiên Nhiên Chống Lại Những Kẻ Vô Thần) nằm trong kế hoạch lớn của ông nhằm kết hợp những tôn giáo đang tranh chiến với nhau.

Leibniz đã phát minh ra những phép tính (the calculus), độc lập với Newton. Nhưng ông xem xét mọi công trình của ông trong một nội dung toàn thể. Ông đã tận lực áp dụng toán học mới của ông vào thần học.

Vi phân (infinitesimals) mà ông phát minh cho công trình toán của ông – hoặc đáp ứng cho những công trình của những người cổ Hy Lạp – giữ những sức mạnh huyền bí trong mắt ông, và ông hy vọng có thể cũng dùng chúng trong những tra vấn siêu hình. Trong lúc Newton, cũng là một người có tôn giáo, thì giải tích (calculus) của ông nghiêng về những nhu cầu của khoa vật lý hơn là siêu hình. Xét cho cùng thì lý thuyết về giải tích (calculus) phát triển một cách độc lập bởi Leibniz và Newton tạo thành những dụng cụ chính mà những nhà vật lý dùng trong những tìm hiểu về thiên nhiên và những toan tính của họ nhằm khám phá những định luật tối hậu của nó.

(còn tiếp)

Read Full Post »

Bác sĩ gốc Việt lừng danh thế giới, tạ ơn một trường nhỏ có lòng tốt đối với người tị nạn

Cập nhật 18-05-2018 

Bác sĩ Phạm Sĩ hiện làm việc tại Mayo Clinic ở Minnesota. (Lebanon Valley College News)

Ông Phạm Sĩ từng học để trở thành bác sĩ ở Sài Gòn, thì ước mơ bỗng bị tan vỡ bởi cuộc chiến. Câu chuyện lưu lạc của ông đến nước Mỹ đã được nhật báo Lebanon Daily News tường thuật vào đầu tháng Năm, với nội dung như sau.

 

Ông thoát khỏi Việt Nam vào ngày 30 tháng Tư, 1975, ngày Sài Gòn và cả miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản. Ông có mặt trên một chiếc thuyền, bị tách rời khỏi đất nước, bỏ lại những người thân trong gia đình, và chỉ có bộ quần áo trên người.

Bốn mươi năm sau đó, Phạm Sĩ là một bác sĩ giải phẫu tim mạch tài ba hiếm hoi của thế giới, và là nhà nghiên cứu y khoa từng viết hơn 170 bài nghiên cứu và tham gia ca mổ ghép tim và gan cho cựu Thống Đốc Bob Casey của tiểu bang Pennsylvania.

Nhưng theo ông Phạm Sĩ nói, câu chuyện tay trắng làm nên sự nghiệp của ông chỉ có thể xảy ra là nhờ lòng nhân đạo của thị xã Annville và trường đại học nhỏ bé chuyên về khoa học và nghệ thuật tại thung lũng Lebanon này, được tỏ bày dành cho những người tị nạn chiến tranh cách đây hơn bốn thập niên.
Ông Phạm Sĩ kể rằng ông đã lớn lên cảm thấy bất lực trong một đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh. Ông ước ao có thể chữa lành những vết thương mà bạn bè ông phải chịu đựng do bom đạn gây ra. Vì vậy ông vào Sài Gòn để học ngành bác sĩ.

Nhưng đến năm 1975, cuộc chiến diễn biến tệ hơn cho phía Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi, quân cộng sản Bắc Việt nhanh chóng xâm nhập và cưỡng chiếm miền Nam. Cha mẹ ông hồi đó sống ở miền Trung, và họ bị kẹt trong sự kiểm soát cộng sản khi cuộc xâm lăng tiến đến gần Sài Gòn.

Ông Phạm Sĩ nói, “Tôi biết chế độ cộng sản là gì và tôi biết dân chủ là gì, vì vậy tôi đã lựa chọn rời khỏi đất nước để rồi thành người tị nạn.”

Bác sĩ giải phẫu tim mạch Phạm Sĩ đang nhận giải thưởng Distinguished Alumnus (Cựu Sinh Viên Xuất Sắc) của trường Lebanon Valley College vào ngày 27 tháng Tư, 2018. (Hình cung cấp cho báo Lebanon Daily News)

Những người tị nạn được đưa tới đảo Guam, nơi họ ở lại cho tới tháng Sáu 1975, khi họ được phép đến trại Fort Indiantown Gap, nơi chứa 15,000 người tị nạn.

Ông nói, “Hồi đó tôi không có gì cả. Tôi chỉ có một bộ quần áo trên người.”
Những người tị nạn không được phép rời khỏi trại Gap, cho đến khi họ có được một người Mỹ bảo trợ, và những người độc thân như ông Sĩ đều nằm cuối danh sách mà sự ưu tiên là dành cho những gia đình. Tuy vậy, đến tháng Tám năm ấy, trường Lebanon Valley College (LVC) tạo một cơ hội cho 12 học sinh tị nạn được ghi danh và có được nơi ăn chốn ở, thông qua sự kết hợp giữa chương trình học bổng Pell Grants, chương trình vừa học vừa làm, một học bổng và một khoản tiền vay nhỏ. Thậm chí trường đại học này còn cung cấp các lớp học tiếng Anh bổ túc cho các sinh viên.

Giáo Sư Hóa Học Danh Dự Owen Moe, thời đó là một giáo sư nghiên cứu tại LVC, đã không lập tức để ý tới Phạm Sĩ. Cho đến khi họ bắt đầu cùng nhau làm việc trên các dự án, ông mới xác định ông Sĩ thuộc hạng sinh viên có thể vươn lên tới hàng đầu trong chức nghiệp.

Ông Moe nói, “Anh ấy có sự quyết tâm, và phải đối phó trước nhiều trở ngại. Anh đã tìm cách vượt qua mọi trở ngại đó.”

Bác sĩ Phạm Sĩ được ngồi cạnh vị Giáo Sư ân nhân Owen Moe (bên trái) và Viện Trưởng Lewis Thanye của trường Lebanon Valley College trong đêm trao giải thưởng 27 tháng Tư, 2018 tại trường này. (Hình cung cấp cho báo Lebanon Daily News)

Ông Phạm Sĩ nói rằng thầy Moe là một người dìu dắt tuyệt vời và là một niềm khích lệ lớn cho ông. Lúc đó ông rất biết ơn vì có cơ hội hoàn tất việc học tại một trường đại học Mỹ, với các giáo sư trực tiếp giảng dạy. Nhưng ít nhất mỗi tuần một lần, ông vẫn thức dậy và nghĩ rằng mình vẫn còn ở Việt Nam. Nơi đó cha mẹ ông đang sống dưới ách cai trị của cộng sản, và không biết ông còn sống hay đã chết.
Phạm Sĩ nói, “Chiến tranh làm cho người ta mau trưởng thành hơn. Đó là một vấn đề sống còn – bạn phải lớn lên, chiến đấu và tìm cách sống sót.”

Ông tốt nghiệp từ trường Lebanon Valley College, sau đó từ trường y khoa, và nhanh chóng vươn lên vượt qua hàng ngũ nghề nghiệp, trở thành trưởng khoa cấy ghép tim, phổi và tim nhân tạo, tại trường y khoa thuộc đại học University of Miami, ngoài những công việc khác. Ông đã công bố hơn 170 bài báo khoa học, giúp thành lập những phương pháp để ngăn chặn sự việc cơ thể tìm cách loại bỏ những bộ phận cấy ghép tim và phổi, và giúp một giải pháp được tiến xa hơn trong một phương cách thay thế phẫu thuật tim hở, theo thông tin do trường LVC cung cấp.

Vào năm 1993, ông là thành viên của một nhóm thực hiện ca cấy ghép gan và tim lần thứ bảy trên thế giới, mà bệnh nhân là cựu thống đốc Robert Casey của Pennsylvania.

Hiện nay ông đang làm việc cho Mayo Clinic tại Minnesota.
Tuy nhiên, những thành tựu mà ông Phạm Sĩ hãnh diện nhất sẽ không xuất hiện trong các cuốn sách lịch sử: đó là cung cấp các ca mổ cần thiết cho di dân, cho những người nghèo cư ngụ trong thành phố, và những người không có khả năng trả tiền giải phẫu.

Chính ở đó, ông Phạm Sĩ cảm thấy như thể đã hoàn thành sứ mạng ban đầu của ông: là sửa chữa những cơ thể bị phá hỏng, giống như những cơ thể mà cuộc chiến Việt Nam đã tìm cách hủy hoại. Ông cũng có cơ hội để chăm sóc các cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam. Trong số đó có một đại tá về hưu, người đã giúp lập một trại tị nạn nơi mà ông Phạm Sĩ từng ở.

Vì ông đam mê giúp đỡ người bệnh, một trong những thách thức chuyên nghiệp lớn nhất của ông là đối phó với thất bại sau một ca mổ có mức rủi ro cao.

Ông nói, “Bạn phải nói chuyện với các người thân trong gia đình, bạn biết đấy, nói cho người thân biết rằng bệnh nhân không thể qua khỏi. Thật khó, rất khó. Bạn phải học cách đối phó với chuyện đó và rồi tiếp tục đi tới. Nếu không, chuyện đó có thể trở nên khó khăn về mặt tâm lý.”

Mấy năm sau khi đến Mỹ, ông Sĩ mới có thể gửi thư cho cha mẹ thông qua một người bạn sống ở Canada. Bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam được nối lại vào cuối thập niên 1980, và trong thập niên 1990, ông đưa cha mẹ sang Mỹ để sống với ông trong một thời gian.

Đến lượt ông dẫn con cái về Việt Nam và tới các quốc gia nghèo kém khác, để các con ông có thể hiểu được sự may mắn mà chúng có được ở đất nước Hoa Kỳ này.

Ông đã nhận được giải thưởng cựu sinh viên xuất sắc của LVC, tại một buổi lễ ngày 27 tháng Tư, và ông rất vui khi lãnh thưởng. Thực vậy, ông ghi nhận công lao của cả trường LVC lẫn cộng đồng Annville đã đón tiếp những người tị nạn trắng tay như ông.

Ông nói, “Dân chúng Mỹ rất rộng lượng, giúp đỡ rất nhiều.”
Vị bác sĩ này hy vọng mọi thành công của ông sẽ khích lệ những di dân khác, để họ không bị nản lòng khi theo đuổi ước mơ của họ.
Ông nói, “Mọi sự sẽ tốt đẹp hơn. Thời gian sẽ chữa lành nhiều vết thương.”

Nguồn: viendongdaily.com (via vietinfo.eu)

Read Full Post »

Bài trên BBC Travel của Miranda Luby
Tại sao tính tình người Úc rất thoải mái?
Trích:

____________________________________________________
Bạn đọc nhấn vào hàng tiêu đề để đọc toàn văn.
(*) Chú thích của SĐ-NTC: Ta dễ dàng liên tưởng đến cuộc sống và tâm tình của người dân nhiều nơi ở Miền Bắc VN sau 1954, và ở Miền Nam sau 1975.

Read Full Post »

Thế nào là “thông minh kiểu Việt Nam và Trung Quốc”?

Thứ hai, 19/06/2017 

Nhiều người Việt Nam và Trung Quốc có cùng một suy nghĩ giống nhau, đó là hay cười nhạo người Tây phương ngu ngốc, không hiểu chuyện đời, “não không có nếp nhăn”, và bản thân họ lấy làm tự mãn. Vậy rốt cuộc thông minh theo kiểu người Việt Nam và Trung Quốc là như thế nào?

Gần đây, một kênh truyền thông New Zealand đã đăng một bài viết nói về “thông minh kiểu Trung Quốc” và nhận được sự chú ý của đông đảo người sử dụng internet. Tác giả bài viết tự nhận là người Hoa, đã nhận định rằng “thông minh kiểu Trung Quốc” chính là không màng trắng đen hay thị phi, không cần biết thật giả hay đúng sai, có sơ hở liền lách vào, có tiện nghi liền chiếm lấy. “Thông minh kiểu Trung Quốc” chính là không màng chính nghĩa hay tà ác, bất cứ lúc nào cũng có thể vì bảo hộ bản thân mình mà làm trái lương tâm. “Thông minh kiểu Trung Quốc” chính là để cho người khác phải phó xuất và gặp nguy hiểm, còn bản thân mình những gì mười phần có lợi sẽ giành lấy hết. Kỳ thực, “thông minh kiểu Trung Quốc” chính là không nói đến thành tín, ức hiếp người thiện lương, chính là các giá trị đều đã đảo lộn, không xét đến quy tắc…

Nhiều người Việt có người thân là Việt Kiều ở Mỹ, có thể đã nghe câu chuyện về việc hàng hóa sau khi mua ở Mỹ có thể được trả và lấy lại tiền mà không cần phải giải thích lý do. Vì vậy, nhiều người khi chuẩn bị tham dự một sự kiện nào đó, liền đến “mua” một bộ quần áo, sau khi tham dự sự kiện xong rồi, lập tức mang trả lại quần áo để lấy tiền về.

Hệ thống bán hàng ở Mỹ còn có một chính sách đáng chú ý, gọi là Price Match. Với chính sách này, nếu bạn mua một sản phẩm sau đó chứng minh được sản phẩm này bán giá rẻ hơn giá tại cửa hàng nào khác, thì có thể được mua sản phẩm với mức giá tương đương mức giá mà bạn tìm thấy. Do vậy, có một số người, khi đi mua hàng với giá đắt hơn những nơi khác, họ không hề mặc cả, mà lại chọn những màu sắc hay kích cỡ (mà ở các cửa hàng khác không có), sau đó khi tìm được cửa hàng nào có mức giá rẻ hơn thì sẽ mang hóa đơn quay lại nơi mua hàng để được giảm giá.

Những người này dương dương tự đắc với hành vi của bản thân, đi đến đâu cũng tự cho rằng bản thân mình thông minh, thậm chí còn đặt câu hỏi sao những người khác quá “ngu ngốc”, không biết lợi dụng “kẽ hở” này.

Coi việc chiếm tiện nghi của người ta là “thông minh”, coi gian xảo là có “năng lực lớn”… mọi giá trị dường như đều đảo lộn.

Bài viết của tác giả người Hoa trên truyền thông New Zealand còn liên hệ đến tỷ phú Warren Buffett. Rất nhiều nhà đầu tư hỏi về tiêu chí chọn đầu tư cổ phiếu của ông Warren Buffett, và thông thường ông hay nhấn mạnh rằng ông rất coi trọng sự thành tín của giám đốc điều hành công ty, nếu không phải công ty làm ăn chân chính, ông nhất định sẽ không lựa chọn đầu tư. Với ông, lợi nhuận không phải là yếu tố hàng đầu, mà là chữ tín.

Một người Hoa đưa đứa con nhỏ mới 3 tuổi đến Mỹ du lịch và ở tại nhà người thân. Người nhà đã đưa cho người Hoa này một chiếc ghế ngồi ô tô dành cho trẻ nhỏ và nói: “Ở đây quy định trẻ nhỏ khi đi xe nhất định phải dùng loại ghế này, tôi đưa cho anh dùng, nhưng vì là ghế đi mượn, nên anh phải giữ gìn cẩn thận, vì chúng ta sẽ phải trả lại cho người ta.”Hai tuần sau khi không dùng xe ô tô nữa, chiếc ghế này đã được đem đến trả lại cửa hàng. Người bán hàng không hỏi lý do tại sao, chỉ đơn giản là đưa đủ số tiền cho người trả hàng. Người nhà liền tự hào nói: “Các cửa hàng ở Mỹ đều như vậy, nếu mua hàng trong vòng 2 tuần thì đều có thể mang hóa đơn đến và trả lại, do đó chúng tôi thường đến đây ‘mượn’ một số đồ đạc. Nhiều người Đại lục thậm chí còn mượn cả TV. Anh nói xem, người Mỹ có ngốc hay không chứ? Trả lại hàng vô điều kiện đúng là sơ hở quá lớn, vậy mà họ còn chẳng biết điều đó!”

Một năm sau, người Hoa này đến Nhật Bản, một số bạn bè đồng hương ở Nhật đã tiếp đón và dùng ô tô để đi lại. Người Hoa này hỏi: “Tokyo đất chật người đông, có phải là rất khó đỗ xe không?”

Đồng hương trả lời: “Không nghiêm trọng đến như vậy đâu, chính phủ quy định cần có chỗ để xe trước rồi sau đó mới được phép mua xe, vì vậy mà không có nhiều xe như anh nghĩ đâu.”

“Ồ, vậy tức là anh có một bãi đỗ xe riêng sao? Chắc là phải đắt đỏ đến mức cắt cổ có đúng không?”

“Anh nghĩ là ai cũng ngốc giống người Nhật Bản sao! Muốn mua xe thì trước tiên đi thuê một chỗ ở bãi đỗ xe, sau khi mua xe xong thì trả lại chỗ đó, vậy chẳng phải là vấn đề được giải quyết hay sao?”

Hai ngày sau, một số bạn bè người Nhật đến đưa người Hoa này đi chơi, họ đi bộ hoặc là đi bằng tàu điện ngầm. Những người bạn Nhật phân trần rằng: “Tokyo mua xe thì dễ, nhưng tìm chỗ đỗ xe thì không dễ dàng gì. Do đó, anh chịu khó đi tàu điện ngầm vậy nhé.”

Người Hoa này lập tức truyền cho anh ấy cách để giải quyết vấn đề. Không ngờ rằng anh ấy đã không “ngộ đạo” mà còn dửng dưng nói: “Nếu muốn lợi dụng sơ hở, thì có nhiều cách lắm. Ví dụ như mẹ tôi sống ở quê, nếu muốn thì có thể dùng hộ khẩu cũ là mua được xe. Nhưng thực tế thì tôi định cư ở Tokyo, không có chỗ đỗ xe mà lại mua xe, vậy thì những người hàng xóm sẽ nhìn tôi như thế nào? Lái xe đi làm, tôi phải đối diện với đồng nghiệp ra sao? Cấp trên và những người đàng hoàng sẽ không làm như vậy.”

Cơ chế trả lại hàng vô điều kiện ở Mỹ và những quy định đầy lỗ hổng ở Nhật, đều được xây dựng trên cơ sở “tín nhiệm”. Nếu sự “tín nhiệm” sụp đổ, thì xã hội cũng sẽ có thể sụp đổ. Do đó, ở xã hội Tây phương, người ta có thể tha thứ cho các chính trị gia làm sai, nhưng không thể tha thứ cho những chính trị gia nói dối.

Nếu như chúng ta “giả đổi thành thật, thật cũng giả”, mỗi người đều hư hư thực thực, thì toàn xã hội sẽ vận hành trên cơ sở “hoài nghi”. Tư duy ảnh hưởng đến hành vi, mà hành vi của mỗi cá nhân sẽ ảnh hưởng rộng ra đến dịch vụ kinh doanh và vận hành xã hội.

Khi đi tàu điện ngầm tại Rome bạn sẽ phát hiện rằng có máy bán vé nhưng không có soát vé. Chắc hẳn bạn sẽ thấy lạ lắm phải không? Làm thế này làm sao kiểm soát được xem hành khách lên tàu có mua vé hay không? Vận hành tàu điện ngầm thế này chẳng phải sớm muộn gì cũng bị lỗ hay sao?

Đây chính là cách nghĩ quen thuộc của chúng ta, luôn liên tưởng mọi chuyện theo kiểu khôn vặt hoặc vì tham lợi nhỏ cho bản thân mình. Đối với người Ý mà nói, nếu chúng ta hỏi câu hỏi này thì thật kỳ lạ. Đi xe có thể không mua vé chăng? Đi xe làm sao có thể không mua vé cho được? Cách nghĩ, cách tư duy của hai bên quả có sự khác biệt lớn.

Nếu như bạn thực sự muốn biết có thể đi tàu mà không cần mua vé hay không, thì câu trả lời là có thể, hoàn toàn có thể lên tàu đi một vài trạm, nhưng phải đảm bảo không để cho giới quản lý ở Ý biết được, nếu biết họ nhất định sẽ phạt bạn. Và sau này nếu bị phạt nhiều lần, có thể tạo thành tiếng xấu ở nước ngoài, thật sự là cái được không bõ cho cái mất!

Xây dựng tín nhiệm không dễ, nhưng điều này lại thực sự quan trọng! Mức độ tín nhiệm lẫn nhau càng cao, thì quản lý sẽ càng nới lỏng hơn. Nếu như đi đúng đường, thì sẽ không sợ phải đi xa!

Hồng Ngọc
________________

Nguồn: TRITHUCVN

 

Read Full Post »

Đàn ông Phương tây tử tế hơn đàn ông Việt Nam?
Bài THỦY NGÂN
 
Đây là một nhận định khiến cho cánh đàn ông ở Việt Nam vô cùng bực bội. Họ luôn là những người hăng hái nhất tẩy chay ý kiến này. Có người chỉ vòng vo chống chế nhưng có người phân tích nghe cũng có lý. Tuy nhiên trong giới hạn bài viết này, chỉ đề cập đến nguyên nhân sự tử tế của đàn ông Tây, hay nói đúng hơn là quý ông sống ở các nước phát triển, không so sánh hay đi sâu vào phân tích nhận định trên là đúng hay sai.
Đầu tiên phải nói rằng sự tử tế Tây phương được phôi thai chính từ giáo dục.Môi trường giáo dục ảnh hưởng gần như toàn bộ nhân cách một con người. Từ trong gia đình hay trường học các em luôn được dạy dỗ phải yêu thương lẫn nhau. Phải ý thức về sức mạnh bản thân, không phải để dẫm đạp, mà là bảo vệ kẻ yếu hơn mình. Nhất là giữa các bạn nam đối với các bạn nữ. Không phải tự nhiên những phim, sách truyện, tranh ảnh, đồ chơi với hình tượng siêu anh hùng cứu thế giới có khắp mọi nơi và luôn được trẻ em yêu mến.
Bạo lực là hình thức cư xử và dạy dỗ sai lệch luôn bị lên án gay gắt. Ba mẹ thầy cô làm gương cho trẻ, khi trẻ sai trái phải tìm cách nói chuyện với trẻ để trẻ nhận ra lỗi lầm và sửa sai. Phạt trẻ bằng việc giới hạn sự tự do của trẻ hoặc những gì trẻ thích, tuyệt đối không đánh trẻ. Các đứa trẻ được dạy cư xử với nhau cũng vậy.
Trong trường học, các em trai lẫn em gái luôn được trang bị kỹ kiến thức để ứng phó với những tình huống bị đe dọa. Thầy cô các y bác sĩ có nhiệm vụ phải báo cáo với cảnh sát nếu phát hiện ra trẻ bị bạo hành. Học sinh cũng không được đánh nhau, nếu có thấy đánh nhau phải báo ngay với người lớn để được can thiệp. Tuyệt nhiên không có cảnh học sinh nam đánh học sinh nữ, càng không có cảnh học sinh nam đứng nhìn, và cổ vũ các học sinh nữ đánh nhau, càng không có chuyện cười cợt và quay phim tung lên mạng.
Sau đến là pháp luật.


Đàn ông tử tế với phụ nữ vì có giáo dục, hay vì… sợ mấy bà nói quá nhiều? (Getty Images)

Trong một xã hội thượng tôn pháp luật, tất cả mọi người đều bình đẳng, không bao che, không thiên vị. Pháp luật được thiết lập để ngăn chặn cái xấu. Mọi người luôn kiềm chế để đối thoại với nhau, có cãi vả lớn tiếng cũng hạn chế đụng tay đụng chân. Vì ai cũng hiểu bạo lực không giải quyết được vấn đề và luật pháp rất nghiêm minh. Chồng đánh vợ, chồng bị ở tù. Vợ đánh chồng, vợ cũng bị ở tù. Thế nên không chỉ có trai Tây tử tế mà gái Tây cũng tử tế không kém. Ngay cả những quý ông gốc Việt sống lâu ở xứ này, cũng khá là tử tế với vợ con.

Còn ở Việt Nam hiện nay, trẻ con không được dạy gì để tự bảo vệ bản thân, khi cần không biết gọi ai hay đi đâu. Con gái mới lớn mẹ chỉ dặn nếu sau này lấy chồng, khi cãi nhau không nên đưa mặt hay đầu ra thách người ta đánh. Vì một khi chồng đã đánh được một lần là sẽ đánh hoài. Đó có vẻ là cách duy nhất các cô vợ cần nhớ để tránh bị chồng đánh, nhưng xem ra không hiệu quả lắm. Vì có nhiều bà vẫn bị đánh vô cớ dù chẳng dám hé răng nói nửa lời. Họ chấp nhận đòn roi để yên ấm gia đình vì họ biết ở ngoài kia không có ai bênh vực giúp đỡ họ. Xã hội để mặc cho những ông chồng đánh vợ. Con cái nhìn thấy ba mẹ và bắt chước, nhỏ thì đánh bạn học, lớn lên thì đánh nhau, đánh bạn gái, đánh vợ, cứ thấy không vừa ý là các anh lại lôi nắm đấm ra giải quyết.

Thế nên phụ nữ Việt khi được tiếp xúc với thế giới văn minh, gặp gỡ những người đàn ông tử tế, được tôn trọng và nâng niu, thì họ sẽ có sự so sánh, dù muốn dù không. Bởi thế cho nên, phải công tâm nhìn nhận đàn ông tốt là do bản chất, nhưng đàn ông tử tế là do giáo dục và pháp luật. Nhưng có lẽ, sự thật này khó mà khiến cho các quý ông ở Việt Nam chấp nhận.
____________________________________
Nguồn: Viễn Đông Daily (Hoa Kỳ)

Read Full Post »

Người Mỹ mà “không Mỹ” và công dân toàn cầu không quên gốc nước mắm thịt kho quê Việt

Gordon Thúy | 14/06/2017

Trích:

Thật vậy, ông là người Mỹ mà không “Mỹ” gì cả. Ông kể cho tôi nghe bao nhiêu là câu chuyện “hoang đường”, về những huyền bí trên đại dương, chìa tay khoe chiếc nhẫn bạc trên ngón tay áp út bàn tay phải do một nhà sư Lào đã làm phép để hộ mạng cho ông, về bùa phép của những pháp sư Indonesia.

Ông khâm phục nền trí thức và trình độ lĩnh hội khoa học nghệ thuật của người Do thái, kể rằng thuở hàn vi ông vào nhà bạn Do thái chơi mang đôi giày há mõm. Tuần sau một đôi giầy mới tinh tươm gửi đến nhà ông mà không ghi địa chỉ người gửi.

Ông ngưỡng mộ tính đoàn kết bảo vệ nhau chặt chẽ của người Hẹ (Hakka) mà ông đã từng chung sống thời gian dài, học của họ cách nấu cơm gần chín thì bỏ lạp xưởng vào hấp cho lạp xưởng tiết mỡ ra cơm ăn béo ngon.

Ông ngâm cho tôi nghe bài chú ngồi thiền của các nhà sư Tây Tạng, v.v. Tôi thấy ông “đáng sợ” thế nào ấy. Có nghĩa là ông không khớp vào một khuôn khổ đơn giản và thuần khiết nào để tôi có thể “đánh giá” dễ dàng.

Nguồn: Soha.vn 

Read Full Post »

Older Posts »