Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Tổng quát’ Category

Đôi giòng:
Ông vua không ngai này cũng ‘xuất quỷ, nhập thần’ chả mấy khác Long Hình Quái Khách trong tiểu thuyết kiếm hiệp tàu.

Chủ tịch Trần Đại Quang kêu gọi quản lý chặt internet

21 tháng 8 2017 – 4 giờ trước

Tham khảo:  Bài của Ô. Trần Đại Quang trên dantri.com.vn:

Tăng cường công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng trong tình hình mới

Bàn phiếm: Đọc bài của ông Quang (GS-TS Trần Đại Quang) ta có cảm tưởng như đọc một bài mẫu nào đó do một ông tuyên giáo…soạn.

Read Full Post »

Đôi giòng:
Thị trường các loại thuốc có nguồn ‘dược thảo’ là một thị trường béo bở, lại không chịu sự kiểm soát chặt chẽ như các loại thuốc trong hệ thống ‘âu-mỹ’ dược chính thống nên nhiều kẻ hám lợi đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết và cả tin của người bệnh, đặc biệt là người bệnh ở những xứ mà dân trí còn bị giới hạn về thông tin để thủ lợi. Ở Canada, đã có lần ( cách nay khoảng hơn một năm) siêu thị WalMart bị kiểm tra về các loại dược thảo (herbals) người ta đã phát hiện rất nhiều hãng thuốc loại này đã ‘treo đầu dê, bán thịt chó’. May mắn cho người mua thuốc là những hãng này còn chút ít lương tâm (?) và còn biết sợ bị trừng phạt (rất nặng về tài chánh) nên các thành phần làm thành viên thuốc khi phân tích ra người ta chỉ thấy bột mì, bột khoai tây, bột cà rốt,…

Bán thuốc chữa ung thư giả: Nguyên GĐ VN Pharma khẳng định “không biết lô thuốc nhập về là giả”

Nguyễn Song | 8/21/2017
_________________________________________________________________
Bạn đọc nhấn vào hàng tiêu đề để đọc toàn bài trên Soha.vn

Read Full Post »

Học giả Nguyễn Duy Chính và bộ biên khảo đồ sộ về nhà Tây Sơn
TTH – Tôi biết tên Nguyễn Duy Chính cũng hơn chục năm nay, khi đọc những bài nghiên cứu về lịch sử Việt Nam của anh in trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển của Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên Huế. Về sau thì biết thêm, anh còn là dịch giả xuất sắc nhiều tiểu thuyết võ hiệp lừng danh của Kim Dung và là tác giả nhiều biên khảo có giá trị về văn hóa, lịch sử Trung Quốc xuất bản ở Việt Nam và Hoa Kỳ.

Mến mộ Nguyễn Duy Chính tôi quyết tìm cho được địa chỉ e-mail của anh để liên lạc. Từ đó, chúng tôi thường xuyên trao đổi, thảo luận những vấn đề sử học cùng quan tâm. Tháng 4/2013, trong chuyến sang Mỹ làm phim tư liệu Biển đảo Việt Nam – Nguồn cội tự bao đời (do Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh sản xuất) tôi có dịp gặp gỡ Nguyễn Duy Chính ở Santa Ana (California). Anh mời tôi đến nhà uống trà, trao đổi chuyện nghiên cứu sử học, rồi tặng cho tôi hai tập bản thảo Thanh – Việt nghị hòa. Tiến trình công nhận triều đại Quang Trung và Việt – Thanh chiến dịch mà anh vừa biên soạn hoàn chỉnh.

Tác giả và học giả Nguyễn Duy Chính (bên phải) tại Santa Ana năm 2015

Tôi đón nhận món quà quý của anh và say mê đọc. Đây là những công trình nghiên cứu nghiêm túc, công phu, có nhiều sử liệu mới mẻ, với những phân tích xác đáng và khách quan về quá trình chuẩn bị chiến tranh xâm lược Đại Việt của triều đình Mãn Thanh, về diễn biến cuộc chiến và sự thất bại nặng nề của quân Thanh trước cuộc phản công chớp nhoáng của quân Tây Sơn do Quang Trung Nguyễn Huệ lãnh đạo, đặc biệt là những câu chuyện hậu trường trong quá trình đàm phán để “bình thường hóa quan hệ” giữa Đại Thanh và Đại Việt sau khi cuộc chiến kết thúc. Hai biên khảo này “trưng ra” nhiều tư liệu quý, khai thác từ kho sử liệu gốc của nhà Thanh, có đối chiếu và kiểm chứng với sử liệu Việt Nam, nên những phản ánh, nhận định trong hai biên khảo này của Nguyễn Duy Chính rất khác so với những thông tin, sử liệu mà tôi được tiếp nhận từ trước đến nay. Sau khi về Việt Nam, tôi  giới thiệu hai bản thảo này Nxb Văn hóa – Văn nghệ ở TP Hồ Chí Minh, với mong mỏi Nxb Văn hóa – Văn nghệ sẽ cho xuất bản hai biên khảo giá trị này.

Nguyện vọng của tôi được đáp ứng. Sau quá trình thẩm định công phu, cùng với sự bổ sung, điều chỉnh và cập nhật tư liệu liên tục từ phía Nguyễn Duy Chính, vào tháng 9/2015 cuốn sách Thanh – Việt nghị hòa. Tiến trình công nhận triều đại Quang Trung chính thức ra mắt độc giả Việt Nam. Cuốn Việt – Thanh chiến dịch cũng đã vào nhà in, dự kiến sẽ xuất hiện trên thị trường sách Việt Nam vào tháng 1/2016.

Cuối tháng 12/2015, tôi trở lại Santa Ana và gặp lại Nguyễn Duy Chính. Anh lại mời tôi đến nhà để hàn huyên và tặng cho tôi thêm hai bản thảo biên khảo mới, cũng viết về quan hệ Đại Thanh – Tây Sơn thời hậu chiến. Đó là cuốn Phái đoàn Đại Việt và lễ bát tuần khánh thọ của Thanh Cao tông và cuốn Giở lại một nghi án lịch sử ‘giả vương nhập cận’. Có thực người sang Trung Hoa là vua Quang Trung giả hay không? Kèm theo hai bản thảo này là một chiếc usb, bên trong chứa 4 bản thảo sách như đã đề cập trên đây và hai tập Tiểu luận lịch sử và Tiểu luận văn hóa mà Nguyễn Duy Chính đã dày công nghiên cứu, dịch thuật và biên soạn trong những năm qua.

Tôi dành ba ngày ròng rã đọc gần 2.500 trang bản thảo chứa trong USB, nhưng cũng chỉ đủ thời giờ lướt qua của nội dung chính yếu của sáu công trình khảo cứu công phu này.

Về triều đại Tây Sơn và bang giao Việt – Thanh vào cuối thế kỷ XVIII, ngoài bốn biên khảo đã đề cập trên đây, Nguyễn Duy Chính còn có nhiều khảo luận đặc sắc khác được tập hợp trong tập Tiểu luận lịch sử như: Tương quan Xiêm – Việt cuối thế kỷ XVIII; Từ chiến dịch Ai Lao đến trận thủy chiến Thị Nại; Quốc ấn từ An Nam quốc vương đến Việt Nam quốc vương; Nghi vấn lịch sử triều Quang Trung: Cầu hôn công chúa nhà Thanh; Lê Duy Kỳ đáng thương hay đáng trách?; Văn hiến chi bang; Khai quan thông thị; Lê Quýnh; Cuộc gặp gỡ giữa phái đoàn Triều Tiên và Ðại Việt ở triều đình nhà Thanh năm Canh Tuất [1790]; Vài sự kiện về bức chân dung vua Quang Trung do họa sĩ nhà Thanh vẽ… Ngoài ra, còn có bản dịch tựa đề Chiến dịch sau cùng của vua Quang Trung do Nguyễn Duy Chính dịch từ bài nghiên cứu The Lao – Tay Son alliance, 1792 and 1793 của Kennon Breazeale.

Đây là lần đầu tiên tôi được tiếp cận một bộ biên khảo đồ sộ, tập trung vào một nhân vật lịch sử đặc biệt của Việt Nam: Nguyễn Huệ – Quang Trung và bối cảnh lịch sử – xã hội đương thời liên quan đến nhân vật này. Những khảo cứu của Nguyễn Duy Chính về Nguyễn Huệ – Quang Trung không tập trung phản ánh những chiến công hiển hách của người “anh hùng áo vải” đất Tây Sơn, mà là những nghiên cứu toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa của Việt Nam vào nửa sau thế kỷ XVIII, cùng những nhân vật lịch sử giữ vai trò quan trọng trong bối cảnh xã hội đương thời.

Dựa vào nguồn tư liệu gốc của triều đình nhà Thanh, Nguyễn Duy Chính có những phân tích xác đáng về thực trạng Trung Quốc lúc bấy giờ; những ẩn khuất đằng sau hành động xâm lược Đại Việt của Thanh triều vào cuối năm 1788 để hứng chịu thất bại nặng nề vào đầu năm 1789; những toan tính và hành động mà nhà Thanh sử dụng trong quá trình tái lập bang giao với Đại Việt sao cho không mất mặt “Thiên triều” nhưng cũng không “chọc giận” Quang Trung thêm một lần nữa.

Nguyễn Duy Chính cũng dựa vào những sử liệu của cả hai bên, đặc biệt là những văn thư trao đổi giữa các đại thần của hai triều cùng những chỉ dụ của Quang Trung và Càn Long để làm sáng tỏ nhiều vấn đề liên quan đến cuộc chiến Thanh – Việt và quá trình nghị hòa sau đó. Anh có những kiến giải và phân tích sâu sắc về tương quan lực lượng của hai bên, khác xa với những thông tin mà chúng ta từng được biết; về chiến lược quân sự táo bạo, hiệu quả và chính sách ngoại giao khôn khéo, cương quyết mà Quang Trung đã sử dụng để đối phó với nhà Thanh, buộc nhà Thanh không chỉ chịu chấp nhận bại trận, mà còn phải hòa hoãn, không động binh trả đũa và phong vương cho Quang Trung, chính thức chấp nhận triều đại Tây Sơn. Đó là những thắng lợi ngoạn mục mà Nguyễn Huệ – Quang Trung và các quan tướng của ông đã giành được trước kẻ thù.

Theo Nguyễn Duy Chính, “Trong tiến trình đàm phán, nhà Thanh đã dàn ra một vở kịch lớn để từ từ xoá đi nỗi nhục bại trận với nhiều tướng lãnh cao cấp tử thương. Vở kịch đó hoàn hảo đến nỗi nhiều sử gia Trung Hoa – cả đại lục lẫn Đài Loan – vẫn nhấn mạnh vào việc nước ta cầu hòa (mà họ gọi là khất hàng) được nhà Thanh chấp thuận mặc dù trên ngôn từ ngoại giao, cầu hòa không đồng nghĩa với khiếp nhược”. Anh nhận định rằng: “Việc phong vương cho vua Quang Trung là một tiến trình cam go không chỉ thu hẹp trong việc nhà Thanh chấp nhận một An Nam Quốc vương mà còn là một cuộc đấu trí để đi đến một ‘win-win solution’ như lối nói ngày nay. Thành quả của đường lối ngoại giao này hoàn toàn không do đút lót cho Phúc Khang An như vài hàng trong sử triều Nguyễn đã ghi chép”. Điều này trái hẳn với những gì chúng ta đã biết khi đọc những công trình nghiên cứu về Quang Trung và nhà Tây Sơn trước đây.

Nguyễn Duy Chính còn làm sáng tỏ nhiều nghi án khác, như: việc Quang Trung cầu hôn công chúa nhà Thanh, về lễ bảo tất hay bảo kiến trong lễ bát tuần khánh thọ Càn Long… Đáng chú ý là anh đã dựa trên nhiều nguồn tư liệu xác thực đương thời để bác bỏ quan điểm cho rằng người cầm đầu phái đoàn Đại Việt sang Trung Hoa mừng thọ Càn Long vào năm 1790 là Quang Trung giả. Theo Nguyễn Duy Chính, đích thân Quang Trung, mà nhà Thanh gọi là Nguyễn Quang Bình, đã sang Bắc Kinh dự lễ bát tuần khánh thọ Càn Long và những luận thuyết về một vị giả vương đóng thế Quang Trung chỉ là do cựu thần nhà Lê và sử gia triều Nguyễn bịa ra để hạ thấp uy danh của vua Quang Trung và triều đình Tây Sơn trong mối quan hệ với triều đình Đại Thanh mà thôi.

Các công trình khảo cứu của Nguyễn Duy Chính về quan hệ giữa Đại Việt với Đại Thanh vào cuối thế kỷ XVIII, cho thấy dù nước ta là một nước nhỏ, nhưng nếu biết cương, biết nhu đúng lúc và không biết khiếp nhược trước kẻ thù, thì dù kẻ thù có lớn mạnh hơn ta gấp bội, cũng phải kiêng dè và tôn trọng ta.

Nguyễn Duy Chính tốt nghiệp cử nhân rồi thạc sĩ ngành Quản trị kinh doanh; có thêm bằng thạc sĩ về Quản lý hệ thống thông tin và bằng tiến sĩ ngành Quản lý và ứng dụng khoa học máy tính. Một người “ngoại đạo” với sử học nhưng có những công trình nghiên cứu lịch sử Việt Nam sâu sắc, thuyết phục và hấp dẫn; một chuyên gia về Tây Sơn có hạng ở hải ngoại, và có lẽ là ở cả Việt Nam cũng khó có người theo kịp.

Santa Ana, 25/12/2015

Trần Đức Anh Sơn
______________________
Nguồn: baothuathienhue.vn

Read Full Post »

Bố ơi, hồi ấy bố đã làm gì?

Bố ơi, hồi ấy bố đã làm gì?
Năm 2020!

Con trai yêu quý của bố. Hồi ấy bố đi làm thêm để có nhiều tiền. Rồi bố đưa cả nhà mình đi du lịch nước ngoài, đi tắm biển Phú Quốc. Bố đi tìm trường tư tốt nhất cho con, bố chở con tới trung tâm ngoại ngữ tốt nhất để con học. Sau này lớn lên có nhiều kiến thức con sẽ đi du học và sinh sống ở nước ngoài, nơi có môi trường sống và làm việc tốt hơn.

– Bố ơi, sao hồi ấy bố không lên tiếng cùng với mọi người về môi trường ô nhiễm?

À, bố nghĩ rằng bố lên tiếng cũng chẳng ai nghe. Đi tuần hành để bày tỏ cùng mọi người thì mất thời gian, không khéo sẽ gặp nguy hiểm, đánh đập, bắt bớ. Mà việc ấy đã có những người khác họ làm rồi, thiếu mình bố nghĩ cũng không sao. Mai này môi trường ở đây không an toàn thì bố sẽ đưa cả nhà mình sẽ ra nước ngoài sống.
Con cố gắng lên, bố đang nhờ các bạn bố liên hệ với bệnh viện nước ngoài để điều trị khối u của con, cho dù có bán hết mấy biệt thự, cả ô tô của bố mẹ cũng bán hết để chạy chữa cho con.

– Bố ơi, con nghĩ là muộn rồi. Bạn Phú Trọng lớp trưởng ấy. Bố mẹ bạn ấy đều là Giáo sư – bác sĩ, cũng đưa bạn ấy đi bệnh viện ở Pháp – Mỹ mà các Giáo sư bên ấy cũng lắc đầu trả về không chữa được.
 Hay con có đề nghị thế này. Bố mẹ không phải bán nhà, bán xe, lo chạy chữa cho con nữa đâu. Bố mẹ hãy sinh em bé, em sẽ thay con sống với bố mẹ.

Không, không con yêu ạ. Bằng bất kỳ giá nào bố mẹ cũng phải chạy chữa cho con. Bố mẹ đã quyết định nghỉ việc để đưa con ra nước ngoài chạy chữa rồi…
Với… lại, mấy năm trước bố mẹ cũng muốn sinh thêm em bé để con có anh có em cho vui, nhưng…bác sĩ khuyên không nên, vì nguy cơ em con sinh ra sẽ bị ảnh hưởng hệ thần kinh…

À, con trai yêu, tiếng Anh của con vẫn tốt chứ. Con hãy nói một câu tiếng Anh mà con muốn nói lúc này xem nào?

– H…E…L…P…M…E…

Ôi, con trai đừng thế. Cố lên, bố yêu con!
__________________________________
Nguồn: caubay.wordpress.com

Read Full Post »

Số Phận Chữ Nghĩa Trong Những Chế Độ Chuyên Chế (IV)

Đào Ngọc Phong
18/08/2017


(Sách tham khảo:
1/ Jacques Gernet : Le Monde Chinois—A History of Chinese Civilization—sách đã dẫn
2/ Nguyễn Hiến Lê : Sử Trung Quốc—sách đã dẫn
3/ Bách  Khoa Toàn Thư Mở : Vụ Án Minh Sử—The Ming History Case)

II/ Nhà Mãn Thanh (1644-1911) Với Hai Cuộc Khủng Bố Văn Học

Trí thức tộc Hán bị tộc du mục Mãn Thanh tàn sát và làm nhục trong ba thời kỳ đô hộ Trung Hoa :
-Vụ án Minh Sử ( 1662-1663)
-Vụ án Chính biến Mậu Tuất 1898
-Khoảng giữa hai vụ án , dài 235 năm là thời kỳ trí thức Hán Tộc theo gương Hàn Tín thời Hán Sở tranh hùng ( 209BC-202BC).

A/ Chính Sách Khủng Bố Chung Đối Với Hán Tộc

Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương nhờ giai cấp nông dân mà đánh đuổi nhà Nguyên và thống nhất đất nước. Nhưng suốt triều đại nhà Minh (1398-1644) giai cấp cầm quyền thống trị đã phản bội giai cấp nông dân, khiến cho giai cấp này lại nổi lên theo lãnh tụ  Lý Tự Thành tràn lên kinh đô chiếm  ngai vàng của Sùng Trinh hoàng đế.

Lý Tự Thành cũng chỉ là một nông dân vô học, một tướng cướp tàn bạo, nhưng can đảm, có tài cầm quân, thông minh, có óc làm chính trị” *( STQ—sđd—Trang 443).

Không như Lưu Bang, Chu Nguyên Chương, tuy vô học nhưng biết dùng mưu sĩ Trương Lương , Lưu Bá Ôn mà thành đại nghiệp, Lý Tự Thành không có mưu sĩ giỏi nên bỏ Bắc Kinh chạy về Thiểm Tây, bỏ ngỏ kinh đô cho quân Mãn Thanh vào chiếm như vào chỗ không người. Có thể nói chế độ hoạn quan mật vụ của nhà Minh coi dân như kẻ thù đã làm mất nước Trung Hoa vào tay ngoại tộc.

Đó là vào tháng 4 năm 1644, vua Thuận Trị nhà Mãn Thanh mới 7 tuổi lên ngôi có Nhiếp Chính Vương Đa Nhĩ Cổn phò tá, mở đầu cho cưộc đô hộ dài 267 năm.

Nhưng đó không phải lần đầu tiên mà nhà Mãn Thanh chiếm được Trung Hoa. Họ đã chiếm một nửa nước Trung Hoa từ cuối đời Băc Tống  ( 960-1127).

Họ vốn là bộ tộc du mục Nữ Chân ( Jurchen, theo Jacques Gernet—sđd—trang 465) sinh sống ở phía đông bắc tỉnh Mãn Châu, phía đông nam biên giới nước Nga.   Vào cuối đời Bắc Tống, họ đã trở thành một bộ tộc hùng mạnh với quân đội thiện chiến khống chế các thế lực đương thời : triều đại nhà Tống, bộ tộc Khiết Đan (hay Liêu ), Mông Cổ, Tây Hạ. Vào năm 1115 họ tự lập nên Đế Quốc Kim ( Chin Empire 1115-1234—J. Gernet –trang 465) .

Năm 1127 quân Kim diệt Bắc Tống . “Quân Kim bắt vua Khâm Tôn, Thượng hoàng Huy Tôn, thái tử, các hậu phi, hoàng tộc tất cả 3000 người, lại cướp vàng, lụa, con gái trong thành đem về bắc. Bọn họ vừa buồn khổ  vừa không chịu được khí hậu miền bắc, lần lần chết hết. Chưa bao giờ dân tộc Trung Hoa bị nhục như vậy” (STQ—SĐD—trang 328).Nhà Nam Tống phải dời kinh đô xuống Lâm An , Hằng châu Chiết Giang.
Tuy nhiên người Kim vốn chỉ quen du mục, không quen định cư định canh. Họ chỉ đi cướp của cải thóc gạo của dân , rồi cướp lẫn nhau . Vì vậy dù chiếm được nửa nước Trung Hoa, họ cũng không giữ được lòng dân. “Trước sau,chúng chỉ là một bọn xâm lăng, một bọn cướp”( STQ—trang 329).

Khi Thành Cát Tư Hãn lập ra nhà Nguyên thì đế quốc Kim bị tiêu diệt năm 1234, trở về lại đông bắc Mãn châu dưới sự đô hộ của nhà Nguyên. Nhà Nguyên chiếm trọn Trung Hoa và đặt sự đô hộ từ 1277 cho tới khi bị Chu Nguyên Chương đuổi về lại đồng cỏ phía bắc năm 1368.

Bốn trăm năm sau , năm 1616, bộ tộc Nữ Chân quật khởi trở lại với lãnh tụ Nô Nhĩ Cáp Xích( Nurhaci ) lập nên triều đại Hậu Kim  (Later Chin—J. Gernet—sđd—trang 466) lại mang quân tấn công Trung Hoa với đội quân Bát Kỳ rất hùng mạnh. Năm 1635 con của ông ta là Hoàng Thái Cực đổi tên bộ tộc Nữ Chân thành Mãn Châu, đổi quốc hiệu là Đại Thanh (Ta-Ching—great Ching). Năm 1643 Thái Cực chết, con là Thuận Trị mới 7 tuổi lên nối ngôi có Đa Nhĩ Cổn là chú làm Nhiếp Chính Vương, tấn công chiếm Bắc Kinh năm 1644 lập nên nhà Mãn Thanh.

Người Mãn Thanh có 400 năm để chuẩn bị đô hộ Trung Hoa lâu dài. Lý do : họ đã dùng người Hán làm cố vấn về tư tưởng, văn hóa, chính trị, quân sự, tổ chức xã hội. Người Trung Hoa sau này gọi những người Hán đó là Hán gian. Thực ra họ là những người bị giai cấp thống trị mới của nhà Minh đàn áp quá mà phải bỏ chạy thật xa, mai danh ẩn tích để sống còn, giữ được giòng họ nối dõi tông đường. Có thể họ chỉ muốn mượn tay ngoại tộc để trả thù cho cha ông, như con cháu những công thần bị Chu Nguyên Chương giết, con cháu của nho sĩ Phương Hiếu Nhụ  vốn bị Yên Vương Lệ phanh thây, hay con cháu những người trong đảng Đông Lâm vốn bị hoạn quan Ngụy Trung Hiền giết….và bao nhiêu những nông dân bị quan quân nhà Minh chiếm đoạt của cải ruộng vườn ( Xin xem lại phần III).

Bốn trăm năm trước,  quân Kim không tận diệt nhà Tống mà duy trì nhà Nam Tống (1127-1276) để bắt triều cống rất nặng nề. Lần này quân Mãn Thanh tận diệt nhà Minh với chính sách khủng bố tàn bạo.

1/ Vụ Tàn Sát 10 Ngày Dương Châu

Khi Bắc Kinh thất thủ, quần thần nhà Minh chạy trốn xuống Nam Kinh lập vua mới là Phúc Vương , tổ chức lại triều chính, quân đội mong cố thủ phương nam. Thành Dương Châu ở Giang Bắc là tiền đồn bảo vệ cho Nam Kinh do Binh bộ Thượng thư Sử Khả Pháp trấn đóng. Quân Mãn Thanh tiến xuống vây thành vào tháng 5 âm lịch 1645 trong suốt 25 ngày mới phá được. Sử Khả Pháp chết. Quân Mãn Thanh tàn sát dân Dương Châu suốt 10 ngày, giết trên 800,000 người ( STQ—sđd—trang 447—BKTTM—INTERNET).

Sử Khả Pháp là một bậc quân tử, một tướng giỏi, nhưng dưới quyền của một bọn lãnh đạo ngu hèn nên phải ngậm hờn nơi chín suối.

Tháng 6-1645 quân Mãn Thanh chiếm Nam Kinh, Phúc Vương chết. Nhà Nam Minh còn kéo dài tới 1662 mới bị diệt hẳn.

Thảm kịch Dương Châu  tái diễn ở Nam Kinh 300 năm sau, khi quân phiệt Nhật   chiếm Nam Kinh vào ngày 13 tháng 12 năm 1937 kéo dài sáu tuần lễ với khoảng 300,000 người bị giết, hãm hiếp (Wikipedia : Nanking Massacre).

Người Hán luôn tự cao tự đại tự xưng là văn minh đứng giữa trời đất, khinh bỉ mọi dân tộc khác là man di mọi rợ . Phải chăng họ phải chịu quả báo nghiệp chung vì sự khinh mạn đó bởi “Rợ Kim, Giặc Lùn” ?

2/ Chính Sách Ruộng Đất Của Kẻ Cướp

 Sử gia J. Gernet viết : “The Manchus settled in China like a race of lords destined to reign over a population of slaves, just as the Mongols had done”(A History—sđd…trang 467)….

“From the beginning of the conquest, the Manchus expropriated the peasants and constituted estates from which Chinese were excluded. These Manchus enclaves (chu’an), created between 1645 and 1647, were numerous all over North China—especially in the neighborhood of Pekin—and eastern Mongolia.” (A History—sđd—trang 468).

Chúng tôi xin tạm dịch : “Người Mãn Châu định cư ở Trung Hoa với tư cách là những ông chủ có thiên  mệnh cai trị một bọn nô lệ, không khác gì người Mông Cổ trước kia”….”Ngay từ buổi đầu của cuộc chinh phục, người Mãn Châu đã truất quyền sở hữu đất đai của nông dân để lập nên những điền trang. Những điền trang Mãn Châu kiểu như vậy, tạo lập từ 1645 đến 1647, thì có rất nhiều khắp miền Hoa Bắc—nhất là chung quanh Bắc Kinh—và ở cả miền đông Mông Cổ”.

“The Manchus made the labour force which cultivated their estates (prisoners of war and peasants deprived of their property who, to retain a strip of land, agreed to work in the enclaves) into slaves. Liable to be bought and sold like animals, subject to numerous corvees, very harsly treated and condemmed to stay where they were, these labourers sought any means to escape, in spite of the whipping or death penalty which they incurred and caused their relatives and neighbors to incur” (sđd—trang 468)

Chúng tôi xin tạm dịch: “Người Mãn Châu coi lực lượng lao động làm việc trong những điền trang này là nô lệ (những tù nhân chiến tranh và những nông dân đã bị cướp mất tài sản, những người mà muốn giữ lại một dải đất thì phải đồng ý làm việc trong những khu biệt lập). Có thể bị mua bán như loài vật, bị cưỡng bách lao động khổ sai, bị đối xử tàn tệ và không được phép rời khỏi nơi qui định, những người lao động này tìm mọi cách bỏ trốn  dù cho  bị đánh bằng roi vọt hay bị án tử hình mà chính họ gánh chịu hay làm liên lụy đến họ hàng , lối xóm”.

Những thảm cảnh của kẻ chiến bại như sử gia J. Gernet mô tả vào thế kỷ 17 vẫn tái diễn trong thế kỷ 20, 21 mặc dù những kẻ xâm lăng trong kỷ nguyên “cao điểm văn minh” dùng chữ nghĩa hào nhoáng hay những xảo thuật để che đậy. Sử gia Gernet dùng hai danh từ “ông chủ”, “nô lệ” đủ  để vẽ bức tranh bi thảm về kẻ chiến thắng và kẻ chiến bại.

Biện chứng chủ nô trong lịch sử không thể nào vượt qua được ( to be overcome) bằng những cuộc chiến tranh chỉ nhằm thay ông chủ này bằng ông chủ khác, thay giai cấp chuyên chế thống trị này bằng giai cấp chuyên chế thống trị khác, còn dân tộc, nhân dân đích thực vẫn làm kiếp nô lệ.

Chính sách khủng bố nhân dân của nhà Mãn Thanh chỉ là thay gông cùm của những vua triều Minh bằng những vua giòng Nữ Chân . Nhờ những cố vấn người Hán, người Mãn thấy rõ vai trò trọng yếu của tư tưởng, của văn học đối với quần chúng, nên cuộc khủng bố  giới trí thức Hán tộc đã diễn ra khốc liệt trong vụ án Minh Sử.

B/ Khủng Bố Trí Thức : Vụ Án Minh Sử 1662-1663

Ông Chu Quốc Trinh (1557-1632) đỗ Tiến sĩ năm 1589, giữ chức Thượng thư bộ Lễ kiêm Nội các đại học sĩ, thăng lên đến chức Tướng Quốc. Nhưng ông không làm việc được với thái giám Ngụy Trung Hiền nên cáo quan về hưu ở làng Nam Tầm tỉnh Chiết Giang. Ông đã viết xong ba bộ sách về lịch sử triều Minh ; bộ thứ bốn chưa xong thì qua đời vào năm 1632 thời vua Minh Tư tôn ( Sùng Trinh hoàng đế).  Bộ này có tên “Minh Lịch Triều Chư Thần Truyện’”.

Làm quan thanh liêm , lại về hưu nên khi ông chết gia đình lâm cảnh sa sút. Con ông phải đem bản thảo giở dang đi cầm cố nơi nhà phú hộ Trang Doãn Nghĩa để có một chút tiền chi dùng. Con trai phú gia là Trang Đình Long vốn ham đọc sách nhưng sớm bị khiếm thị, phải nhờ tới 18 vị học giả đọc cho nghe. Thấy hay quá bèn mời các vị này cùng nhau tăng bổ, tu chỉnh, viết cho xong. Nhưng sách chưa in thì Đình Long chết năm 1660 khi mà nhà Mãn Thanh đã cai trị được 16  năm rồi.

Trang Doãn Nghĩa bỏ tiền ra in với nhan đề “Minh Triều Lược Kỷ”, đem bản thảo lên Bộ Lễ kiểm duyệt và được phép phổ biến.

Hồi ấy có một tri huyện bị bãi chức vì tội tham nhũng, tên Ngô Chi Vinh không có tiền về quê. Hắn đến xin tiền hai phú gia Chu Hựu Minh và Trang Doãn Nghĩa. Chu Hựu Minh khinh bỉ không cho, bèn đem lòng oán hận. Còn Doãn Nghĩa cũng chỉ cho chút ít, hắn cũng oán hận.

Tình cờ hắn đọc được cuốn “Minh Triều Lược Kỷ” tác giả Chu Quốc Trinh do Trang Đình Long tu chỉnh và Trang Doãn Nghĩa xuất bản. Hắn đọc và phát hiện một số điều mà hắn cho là có tư tưởng phản nghịch với đương triều :

-Không viết tước hiệu Nhiếp Chính Vương của Đa Nhĩ Cổn ( em vua Hoàng thái Cực, chú vua Thuận Trị). Đa Nhĩ Cổn vốn được xem là khai quốc công thần nhà Thanh.

-Vẫn dùng niên hiệu của triều Minh để viết lịch sử sau 1644.

-Kết án một số cựu thần nhà Minh đầu hàng nhà Thanh

-Giọng văn ai oán đầy hoài niệm khi viết về chế độ cũ

Ngô Chi Vinh  đắc ý tìm ra con đường tiến thân trở lại quan trường. Hắn bèn đem trình lên quan Tuần Phủ . May có người mách Trang Doãn Nghĩa. Ông kinh hoảng trước đại họa sắp đến, nên dốc hết tiền bạc lo lót mọi nơi từ dưới lên trên để thu hồi những bản đã phổ biến và thay bằng bản in mới sửa hết những chỗ sai.

Ngô Chi Vinh đợi lâu không thấy kết quả, ra hiệu sách thấy bản in mới . Hắn không bỏ cuộc, mang bản in cũ lên tận kinh đô tố cáo. Lúc bấy giờ trong triều đình, Nhiếp Chính Vương đã chết. Tướng quân trong đội quân Bát Kỳ,  Ngao Bái,  đang nắm quyền chính, phò tá Vua Khang Hy mới 8 tuổi lên ngôi năm 1662. Ngao Bái muốn củng cố quyền lực đối với những địch thủ khác, đọc bản cáo trạng của Ngô Chi Vinh , bèn phái quân xuống Chiết Giang điều tra bắt phản nghịch.

Cuộc điều tra nhanh chóng đã bắt tất cả những người có liên quan đến cuốn sách:

-Trang Doãn Nghĩa, chủ biên

-18 vị học giả có tên đã góp phần hiệu đính

-Vị quan viết lời tựa

-Tất cả viên chức đã ăn hối lộ của Trang Doãn Nghĩa

-Những hiệu buôn sách

-Những người đọc sách

-Những thợ khắc chữ

Ngao Bái ra án tử hình 72 người, hoặc chết chém, hoặc phanh thây, hoặc tùng xẻo. Trang Doãn Nghĩa tự tử trong tù, Trang Đình Long chết rồi cũng bị quật mồ lấy xác lên hành hình. Ngoài ra có cả trăm người bị đi đầy nơi biên ải.

Ngô Chi Vinh không tha Chu Hựu Minh, mặc dù ông không có liên quan đến cuốn sách.

Số là trong bản in có dòng chữ :   “Chu thị nguyên cảo do nhuận sắc mà thành”. “Chu thị” , ở đây là nói tác giả Chu Quốc Trinh. Nhưng hắn thù Chu Hựu Minh đã khinh bỉ hắn nên cáo rằng chữ Chu Hựu Minh có ý nghĩa họ Chu còn nhớ nhà Minh. Rốt cuộc ông này cùng năm con đều bị chết chém..

Phần thưởng mà nhà Mãn Thanh dành cho hắn là được phục chức, rồi thăng chức và hưởng nửa gia tài  của hai phú gia . Hai năm sau, 1665, hắn tự nhiên mắc bệnh lở lói khắp người mà chết.

Quả báo nhãn tiền.

Cuộc khủng bố giới trí thức của triều đình Mãn Thanh tưởng là chỉ xẩy ra vì lãnh đạo là một bộ tộc du mục thiếu văn hóa.
Nhưng ba trăm năm sau , 1956, thảm kịch đó tái diễn , với vụ án
Nhân Văn Giai Phẩm mà kịch bản khủng bố chẳng khác gì vụ án Minh Sử.
1/ Ra lệnh cho mậu dịch không bán giấy in báo cho nhóm đối lập
2/ Khủng bố những ngưởi phát hành
3 Khủng bố những người đọc
4/ Vận động thợ in không in báo đối lập—-dùng hệ thống công đoàn uy hiếp công nhân nhà máy in đình công không in báo phản động
5/v
u cáo nhóm trí thức Nhân Văn Giai Phẩm cấu kết với địch

( TRĂM HOA ĐUA NỞ TRÊN ĐẤT BẮC—sđd—Chương 2—Mục : Chiến thuật Khủng Bố ngầm)
Những đao-bút-lại trong vụ án này đều từng là những văn nghệ sĩ, trí thức có tiếng tăm trong văn học sử Việt Nam. Họ còn nguy hiểm hơn Ngô Chi Vinh nhiều.

C/ Vụ Án Mậu Tuất 1898: Lục Quân Tử

Nhà Mãn Thanh chỉ có bốn vua giỏi là Khang Hy ( 1662-1722), Ung Chính ( 1723-1735), Càn Long ( 1736-1796), Gia Khánh (1796-1820). Còn năm vua tiếp theo đều ngu, hèn : (Đạo Quang ( 1821-1850), Hàm Phong ( 1851-1861), Đồng Trị ( 1862-1874), Quang Tự ( 1875- 1908), Phổ Nghi ( 1908-1912).

Sau khi Khang Hy giết Ngao Bái năm 1669, chấm dứt quyền lực của phe quân nhân thì trí thức Hán tộc được trọng dụng  cho mãi gần tới cuối đời Thanh 1900. Trong hơn hai trăm năm,  trí thức Hán tộc đóng vai Hàn Tín chịu nhục lòn cúi ngoại tộc. Những đại nho sĩ như Tăng Quốc Phiên ( 1811-1872), Tả Tông Đường ( 1812-1885), Lý Hồng Chương ( 1823-1901) đều làm quan lớn, hợp tác với triều Mãn Thanh chống lại những phong trào khởi nghĩa của nông dân như Niệm quân, Thái Bình thiên quốc ( 1851-1864) . Họ vẫn muốn giữ triều Mãn Thanh tồn tại mặc dù vua và triều đình đã thối nát yếu hèn trước những cuộc xâm lăng của các nước phương Tây từ thời Đạo Quang trở đi.

Ngay cả những nho sĩ Hán tộc vừa giỏi Hán học vừa giỏi Tây học như Khang Hữu Vi

( 1858-1927), Lương Khải  Siêu ( 1873-1929 ), Đàm Tự Đồng ( 1865-1898 )  ….cũng vẫn cố cứu chữa cho con bệnh đã hấp hối. Chính vì vậy họ mới lãnh hậu quả thê thảm.

Sau khi vua Hàm Phong chết ( 1861) , cả triều đình Mãn Thanh quì gồi trước một người đàn bà ít học nhưng gian ác dâm dật là Từ Hy thái hậu đứng đầu một phe cực kỳ bảo thủ gọi là Hậu đảng. Bọn Hậu đảng vẫn tự cho mình là giỏi nhất thiên hạ, không chịu cải cách để theo kịp những tiến bộ của phương Tây, không biết rằng dân Nhật Bản mà họ vẫn khinh miệt là bọn Đông Di đang trở thành một cường quốc kỹ nghệ sánh ngang cùng những nước Anh, Pháp, Mỹ,Đức.

Từ 1873 cho đến 1893, Nhật đã chiếm những thuộc quốc của Trung Hoa như đảo Lưu Cầu ( Okinawa), Triêu Tiên, Đài Loan. Năm 1894 ( thời vua Quang Tự )  hạm đội Nhật đã đánh tan hạm đội Bắc Dương của nhà Thanh ở gần Uy Hải Vệ và làm chủ biển Hoàng Hải. Biến cố này làm rung động toàn thế giới. Nhà Thanh phải ký những hiệp ước nhục nhã.

Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu , Đàm Tự Đồng đứng đầu một nhóm trí thức dâng kế sách Duy Tân lên vua Quang Tự mong làm cho nước Trung Hoa tiến bộ nhanh như Nhật Bản. Nhưng họ gặp sức phản động của Hậu Đảng nên từ năm 1895 cho mãi đến tháng 6 -1898 kế sách Duy Tân mới được Quang Tự cho thi hành theo tiêu chuẩn “Toàn Biến, Tốc Biến” ( đổi nhanh, đổi mọi mặt).

Từ ngày 11 tháng 6 năm 1898 cho tới tháng 9 -1898 , “Trong khoảng chưa đầy ba tháng mà một trăm mấy chục đạo chiếu được ban ra làm cho cả trong triều lẫn ngoài tỉnh mọi người xôn xao” ( STQ—sđd—trang 539 ).

Từ Hy cùng Hậu đảng ra tay ngăn cản, thu hồi những sắc lệnh đổi mới. Đàm Tự Đồng khuyên Quang Tự triệu tướng Viên Thế Khải ( 1859-1916 ) đem 7000 quân tử Bắc Dương về Bắc Kinh nhằm diệt Hậu đảng.

Viên Thế Khải là một tướng quân người Hán có mưu lược và tham vọng chính trị. Nhìn tình hình hai phe : Hậu đảng của Từ Hy, và Đế đảng của Quang Tự, Khải thấy rõ phe Tư Hy còn rất mạnh vì được đội quân Bát Kỳ gốc Mãn Thanh hậu thuẫn. Hắn bèn phản bội phe Duy Tân, tố cáo âm mưu của Quang Tự muốn trừ khử Tư Hy. Phe nhà vua chỉ còn toàn một nhóm nho sĩ có chữ nghĩa nhưng không có vũ khí và thủ đoạn chính trị.

Từ Hy bắt giam Quang Tự và trở lại nắm toàn quyền lãnh đạo triều đình, phong cho Viên Thế Khải làm Thống Soái tân quân Bắc Dương. Cuộc “Duy Tân Một Trăm Ngày” coi như chấm dứt . Cuộc lùng bắt khủng bố phong trào bắt đầu. Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu trốn khỏi Trung Hoa. Đàm Tự Đồng không trốn , bị bắt,  tử hình cùng năm vị khác, trong đó có em của Khang Hữu Vi là Khang Quảng Nhân. Đàm Tự Đồng chết năm 33 tuổi.

Biến cố này được sử sách gọi là “Chính Biến Mậu Tuất 1898”. Sáu vị nho sĩ bị tử hình được dân tôn xưng là “Lục Quân Tử” , sánh ngang với sáu vị bị thái giám Ngụy Trung Hiền giết vào thời nhà Minh gọi là “Lục Tài Tử” trong vụ án Đảng Đông Lâm ( xin xem phần III ).

Nếu sáu nhà trí thức chết trong vụ án đảng Đông Lâm ( 1627 ) đã báo trước sự diệt vong của triều đại nhà Minh  ( 1644 ) , thì Lục Quân Tử trong vụ án Duy Tân Mậu Tuất cũng báo trước sự diệt vong của nhà Mãn Thanh ( 1911 ).

Tư tưởng của ba nho sĩ Khang, Lương, Đàm lưỡng lự giữa quân chủ chuyên chế và quân chủ lập hiến, giữa quân chủ lập hiến và thể chế dân chủ, phản ánh thái độ mất tự tin của trí thức Hán tộc đối với dân tộc mình vì chưa dám dứt khoát hẳn với ngoại tộc Mãn Thanh. Ngay cả khi người Mãn đã giết “Lục quân Tử”, đã ký hiệp ước Tân Sửu 1901 mà sử sách gọi là ô nhục không những đối với triều đình Mãn Thanh mà cho cả dân tộc Trung Hoa, mà các cụ vẫn còn muốn chủ trương bảo hoàng nghĩa là vẫn thờ vua ngoại tộc.

Sự mất tự tin đó tồn tại mãi trong giới trí thức Trung Hoa nói riêng và trong dân tộc Trung Hoa nói chung, kéo dài cho mãi tới những năm của thập niên 1950 với phong trào “Bách Hoa Tề Phóng”, của thập niên 1960 với phong trào “Cách Mạng Văn Hóa”.(CÒN TIẾP)

Đào Ngọc Phong
08/20/2017

Read Full Post »

Triển lãm ảnh về Sài Gòn trên VnExpress (vnexpress.net)

Chủ nhật, 20/8/2017 

Sài Gòn thay đổi sau gần 100 năm qua ảnh triển lãm

Từ ngày 17/7, tại đường sách TP HCM (quận 1) triển lãm 40 ảnh so sánh các kiến trúc và cảnh quan Sài Gòn xưa và nay. Những bức ảnh thành phố Sài Gòn từ thời Pháp được các tác giả Phúc Tiến, Văn Phụng, Hiếu Minh và Soh Weng Yew sưu tầm, chụp lại sự thay đổi của nhiều công trình, cảnh quan sau khoảng một thế kỷ.
__________________________________________________
Quý bạn nhấn vào hàng tiêu đề để xem toàn bài.

Read Full Post »

Đôi giòng:
Bài viết của Hoàng Phương trên VnExpress.  Cùng với thời gian, cách nhìn của những người viết sử tại Việt Nam ngày càng hướng đến ‘sự thật lịch sử’, không còn bị ép vào lối nhìn giáo điều của kiểu ‘giáo phái’ chính trị.  
 

Thứ bảy, 19/8/2017


Chiến tranh xâm lược của Trung Quốc được đưa vào trong sách Lịch sử Việt Nam
Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc được nói đến nhiều hơn trong bộ sử đồ sộ mới công bố với tên gọi chiến tranh xâm lược.

Không gọi là “ngụy quân, ngụy quyền”

PGS Cường cho rằng, vấn đề Việt Nam Cộng hoà trong các bộ sử tới sẽ phải nêu rõ hơn, khi đây là một thực thể tồn tại ở miền Nam Việt Nam gần 21 năm. Có một sự gối nhau khi năm 1954 có thể chế nữa gọi là Quốc gia Việt Nam. Đến năm 1955, Ngô Đình Diệm truất Bảo Đại để làm quốc trưởng, rồi trưng cầu dân ý, bầu Tổng thống…

Thời gian trước, nhắc đến chính quyền Việt Nam Cộng hoà, nhiều người vẫn quen gọi là nguỵ quân, nguỵ quyền. Nhưng trong bộ sách gọi trung tính hơn là “quân đội Sài Gòn, chính quyền Sài Gòn”. Theo ông Cường, lịch sử cần phải khách quan, viết thế nào để cho mọi người chấp nhận.

Quý bạn nhấn vào hàng tiêu đề để đọc toàn văn trên VnExpress.

Read Full Post »

Older Posts »