Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Tổng quát’ Category

Tin trên VOA tiếng Việt (20/07/2017)

Chống buôn người phải chặn trước khi nạn nhân rời Việt Nam

Việt Nam luôn bị xếp hạng là một trong ba quốc gia gốc hàng đầu, nơi xuất xứ của các nạn nhân nạn nô lệ thời hiện đại bị đưa sang Anh. Hầu hết nạn nhân là phụ nữ và trẻ em, thường bị buộc phải làm việc trong các trại trồng cây cần sa, các tiệm làm móng tay, hoặc các động mại dâm.

Bạn đọc nhấn vào hàng tiêu đề để đọc toàn văn trên VOA tiếng Việt

Advertisements

Read Full Post »

Vài điều cần phản biện với ‘The Vietnam War’

Bùi Tín

Ngay từ khi còn ở trong nước, tháng 5/1990, tôi gặp ông Archimede Patty tại lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh ông Hồ ở hội trường Ba Đình, chính ông A. Patty từng ở trong tổ Con Nai của tình báo Mỹ đột nhập Việt Bắc để bắt liên lạc và giúp huấn luyện quân sự bộ đội Việt Minh, cho tôi biết rằng ông không tiếc gì việc lỡ làng mối quan hệ Mỹ – Việt, vì sự thể ắt phải như thế. Theo ông tìm hiểu, hồi đó, tổng thống F.D. Roosevelt và tổng thống H.S. Truman cùng các ngọai trưởng E. Stentinius và J. Byrns nắm rất chắc lý lịch của ông Hồ, qua trao đổi tin tức rất đầy đủ kịp thời giữa tình báo Pháp, Anh và CIA. Từ đầu năm 1945 họ đã thông báo cho nhau rằng ông Hồ là cán bộ quốc tế ăn lương của Quốc tế Cộng sản, được huấn luyện kỹ ở Moscow từ năm 1924, cầm đầu Đảng Cộng sản Đông Dương và sớm muộn sẽ thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, Lào và Cam-bốt.

_____________________________________________
Bạn đọc nhấn vào hàng tiêu đề để đọc toàn văn

Read Full Post »

Cuộc chiến bành trướng chủ nghĩa cộng sản

I- HỒ CHÍ MINH TOÀN TẬP XÁC NHẬN:

–  Hồ Chí Minh đã thể hiện tinh thần quốc tế vô sản không chỉ trên lời nói mà còn bằng hành động cụ thể cho sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới. ở Việt Nam, những tổ chức cộng sản đầu tiên đựợc hình thành vào cuối những năm 1920 đánh dấu sự chín muồi cho sự ra đời của một chính đảng vô sản mácxít lêninnít của giai cấp công nhân.

Vì vậy, Người đã thay mặt Quốc tế Cộng sản đứng ra thống nhất các tổ chức cộng sản ở trong nước, chính thức thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. 

(Tập 2: Lời giới thiệu)

– THƯ GỪI BAN CHẤP HÀNH QUỐC TẾ CỘNG SẢN CỦA HỒ CHÍ MINH

Từ lúc tôi tới Mátxcơva đã có quyết định rằng sau 3 tháng lưu lại ở đây, tôi sẽ đi Trung Quốc . Bây giờ đã là tháng thứ chín tôi lưu lại và tháng thứ sáu tôi chờ đợi, vậy mà việc lên đường của tôi chưa được quyết định. Vậy chuyến đi sẽ là một chuyến đi để khảo sát và nghiên cứu.
Thiết lập những quan hệ giữa Đông Dương và Quốc tế Cộng sản.
B- Thông báo cho Quốc tế Cộng sản về tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của thuộc địa này.
C- Tiếp xúc với các tổ chức đang tồn tại ở đó, vàD- Tổ chức một cơ sở thông tin và tuyên truyền.
Tôi hành động thế nào để hoàn thành nhiệm vụ này? Số tiền cần thiết cho sự ăn ở của tôi sẽ là bao nhiêu? – Hẳn là tôi sẽ phải đổi chỗ luôn, duy trì những mối liên hệ với các giới khác nhau, trả tiền thư tín, mua những ấn phẩm nói về Đông Dương, tiền ăn và tiền trọ, v.v., v.v.. Tôi tính rằng, sau khi tham khảo ý kiến các đồng chí người Trung Quốc phải có một ngân sách xấp xỉ 100 đôla Mỹ mỗi tháng, không kể hành trình Nga – Trung Quốc (vì tôi không biết giá vé).
Ngày 11-4-1924.

– Nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ và thấy có trách nhiệm phải gửi tới anh chị em và các đồng chí lời kêu gọi này. 

– V- Trách nhiệm của đảng viên:

  1. a) Tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và cổ động quần chúng theo Đảng.
  2. b) Tham gia mọi sự tranh đấu về chính trị và kinh tế của công nông.
  3. c) Phải thực hành cho đựợc chánh sách và nghị quyết của Đảng và Quốc tế Cộng sản.

– “Đệ Tam Quốc tế là một Đảng cộng sản thế giới. Các Đảng các nước như là các chi bộ, đều phải nghe theo kế hoạch và quy tắc chung. Việc gì chưa có mệnh lệnh và kế hoạch đệ tam quốc tế thì các Đảng không được làm… Cách mệnh Việt Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới… Phải tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình Đảng và Quốc tế cộng sản…”

II- MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THÀNH LẬP NGÀY 20-12-1960

III – LỰC LƯỢNG HOA KỲ ĐẾN VIỆT NAM VÀO THÁNG 6 NĂM 1965

*******

– Rõ ràng, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được thành lập trước khi quân đội Hoa Kỳ đến Việt Nam.

Vào năm 1954, trước khi tập kết ra Bắc, cán binh VC đã để lại những “hạt giống đỏ” trong bụng của nhiều phụ nữ miền Nam, chuẩn bị cho ngày trở lại.

– Tất cả công cuộc xâm lăng Miền Nam đã được toan tính và sắp đặt trước.

Không thể chối cãi, cuộc chiến tranh xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa được tiến hành theo mệnh lệnh và kế hoạch của Quốc tế Cộng sản như  Hồ Chí Minh minh xác trong “Hồ Chí Minh Toàn Tập”, sau này lại được Lê Duẩn xác nhận thêm một lần nữa “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô và Trung Quốc”, vì vậy cho rằng  “cuộc chiến 1955-1975 là cuộc chiến chống ngoại xâm Mỹ” là không đúng.

Như đã nói, nó chính là cuộc chiến nằm trong “cách mệnh thế giới” theo mệnh lệnh và kế hoạch của Đệ Tam Quốc Tế, nói cách khác, là cuộc chiến bành trướng chủ nghĩa cộng sản, mà Hồ Chí Minh và đảng CSVN phải thi hành theo mệnh lệnh của quan thầy Liên Xô,Trung Cộng.

Nguyễn Thị Bé Bảy
___________________________
Nguồn: Việt Nam Dân Đen

Read Full Post »

Tổ chức thổ tả UNESCO

Tổ chức thổ tả UNESCO

BS.Trần Văn Tích
 
Những người Việt Nam tỵ nạn chống cộng còn quan tâm đến đất nước đều biết Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hiệp Quốc (UNESCO), đặt trụ sở ở Paris.
Cộng đồng tỵ nạn chống cộng Việt Nam đã phản đối kịch liệt vụ UNESCO ra nghị quyết vinh danh Già Hồ là “danh nhân văn hoá thế giới“ nhân ngày sinh thứ 100 của Hồ Chí Minh, dựa theo thư của gã Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia UNESCO của Việt Nam là Võ Đông Giang gửi cho Giám đốc UNESCO Amadou Mahtar M’Bow ngày 14.04.1987. Kết quả UNESCO phải nhượng bộ và không tổ chức “vinh danh“ họ Hồ nữa.
UNESCO thường chịu ảnh hưởng của những chính phủ thành viên. Việt cộng biết rõ như vậy nên nhân ngày Quốc tế Phụ nữ và căn cứ vào dự án “Phụ nữ huyền thoại trong lịch sử nhân loại“, Hội Liên Hiệp Phụ nữ Trung ương Việt cộng liền đệ trình Liên Hiệp Quốc danh sách 23 “phụ nữ huyền thoại Việt Nam“. Tuy nhiên danh sách chỉ gồm 12 người có thể tạm xem như có công với dân tộc và văn hoá, như quốc mẫu Âu Cơ, Hai Bà Trưng, Hồ Xuân Hương v.v..còn lại là 11 nữ cán bộ Việt cộng từng cuồng tín theo chủ nghĩa cộng sản mang lại đại họa cho dân tộc và văn hoá Việt Nam. Chúng gồm có Nguyễn thị Minh Khai, Nguyễn thị Định, Mười cô Đồng Lộc (?!), Võ thị Sáu, Hoàng Ngân, Nguyễn thị Thứ, Phạm thị Trân, Nguyễn thị Thập, Quách thị Hồ, Kan Lịch và Nguyễn thị Chiên. Đồng bào tỵ nạn chống cộng lại phản đối nên chẳng rõ cái đề nghị quái đản của ViXi đã đi đến đâu.
Hôm 12.10.2017 Hoa Kỳ chính thức thông báo với UNESCO về việc rút khỏi định chế có trụ sở tại Paris, tố cáo UNESCO là « bài Do Thái ». Mỹ chỉ giữ lại tư cách quan sát viên. Tổng giám đốc UNESCO, bà Irina Bokova xác nhận: « Tôi đã nhận được văn bản chính thức từ ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson, và tiếc nuối sâu sắc về quyết định rút lui của Hoa Kỳ ». Bà tâm sự: « Năm 2011, khi Mỹ loan báo ngưng đóng góp tài chính, tôi đã bày tỏ sự tin tưởng là UNESCO chưa bao giờ quan trọng đến như thế với nước Mỹ, và ngược lại. Sự thật này ngày nay lại còn rõ ràng hơn, vào lúc bạo lực cực đoan và khủng bố gia tăng. Cần phải có những lời đáp mới về lâu về dài, vì hòa bình và an ninh thế giới».

 

Về phần mình, Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết việc rút khỏi Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 31.12.2018, theo quy định của UNESCO. Thông cáo viết : « Đây không phải là một quyết định bồng bột, mà phản ảnh những quan ngại của Hoa Kỳ về những lạc hậu của tổ chức này, cũng như việc lập trường chống Do Thái dai dẳng, cần phải được cải cách về chiều sâu».
Từ đầu tháng bảy 2017, Washington đã cho biết ý định xem xét lại mối liên hệ, sau khi UNESCO tuyên bố thành phố cổ Hébron tại vùng Cisjordanie bị chiếm đóng là «khu vực bảo tồn » của di sản thế giới. Quyết định này theo phía Mỹ là « đi ngược lại với lịch sử ». Tại Hébron hiện có 200.000 người Palestine sinh sống, và vài trăm người Do Thái cư ngụ gần khu thánh địa của cả Do Thái giáo và Hồi giáo.
Hoa Kỳ, đồng minh của Israel, đã ngưng đóng góp tài chính cho Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc từ năm 2011, sau khi UNESCO kết nạp Palestine. Tuy nhiên từ đó đến nay Mỹ tiếp tục tham gia hội đồng điều hành của tổ chức này, gồm 58 thành viên. Trong vụ rút khỏi UNESCO lần này, Do Thái đi bước trước rồi Hoa Kỳ đi ngay bước kế tiếp.
Thực ra, Hoa Kỳ từng từ giã UNESCO lần đầu tiên năm 1984 với nhiều lý do mà một trong những lý do chính là hà lạm và biển thủ công quỹ. Hơn nữa UNESCO thuở bấy giờ là hang ổ của bọn mác-xít hay thân cộng. Năm 1985, Anh quốc và Tân gia ba theo chân Hoa Kỳ. Đến năm 1997, nước Anh trở lại UNESCO và sau đó không lâu, Hoa Kỳ cũng tái hồi UNESCO, viện dẫn lý do là sau khi bức tường Berlin sụp đổ, chủ nghĩa Marx không còn nguy hiểm nữa.
Được tiêu xài vô tội vạ tiền thuế do người dân tại nhiều quốc gia đóng góp – đóng góp nặng nhất vẫn là Hoa Kỳ (22%) -, UNESCO tha hồ mướn nhân viên, phong chức cho họ, cung cấp cho họ nhiều đặc quyền kinh tế tài chánh. UNESCO có đến 175 giám đốc và 1000 chuyên viên cố vấn! Cái tổ chức qui tụ toàn thư lại này bị xem là xơ cứng; những thành viên thống thuộc nó phần lớn là con ông cháu cha, bà con của các nhân vật đứng đầu chính phủ hay các bộ trưởng.
Cái tập thể ăn hại đái nát đó thỉnh thoảng lại có những sáng kiến quái gở. Trong khuôn khổ các dự án công nhận di tích văn hoá lịch sử của nhân loại, UNESCO “phong thánh“ cho công viên El Djamena ở Marrakech (Marốc) vì bầu khí quyển tại địa điểm này có những hương thơm đặc biệt dẫu rằng ngày nay bầu trời nơi đó chỉ còn nồng nặc mùi đủ thứ loại dầu. Kế đến UNESCO tuyên dương nghệ thuật nấu nướng thực phẩm của Pháp! Chắc vì có trụ sở ở ngay thủ đô nuớc Pháp nên nhân viên UNESCO thường có dịp thưởng thức món thịt hầm nấu rượu vang và/hoặc món cháy dòn xứ Dauphiné!
Khi khủng hoảng tài chánh xảy ra vào hai năm 1984-1985 do sự rút lui của Hoa Kỳ, Anh quốc và Tân Gia Ba, 175 ông giám đốc điều hành của UNESCO cuống quít tìm biện pháp cứu vãn tình thế. Họ họp mặt ở Taormine, một địa danh mầu nhiệm bên Sicile, để vừa thảo luận vừa chiêm ngưỡng hoả khí do núi lửa Etna tạo ra mà không bị nóng quá!
Lạc lối sai đường về ý thức hệ là nghề của UNESCO. Người Việt chúng ta đã biết quá rõ qua vụ dự án vinh danh Hồ Chí Minh. Suy tư theo lý luận mác-xít, UNESCO chủ trương ban hành “tuyên cáo về quyền súc vật“. UNESCO cổ vũ rằng tất cả những loài súc vật có một bộ thần kinh hoạt động tương đối hoàn chỉnh đều có những quyền đặc biệt của con vật. Chấp nhận con người cũng là một con vật, họ yêu cầu các chính phủ và các thiết chế cai trị phải có những đại diện đặc trách về bảo vệ và bảo toàn súc vật.
Trung thành với đa thần giáo, UNESCO đả kích thẳng thừng nền văn hoá Thiên chúa giáo. UNESCO đánh túi bụi Sáng Thế Thư (trong Kinh Cựu Ước). UNESCO giải thích rằng Sáng Thế Thư trao cho con người – vốn được tạo thành dựa vào chân dung Thượng Đế – quyền năng vô hạn nhằm thống trị vũ trụ, khai thác môi trường, bóc lột môi sinh. Tổng Giám đốc UNESCO Boutros Gali từng ra tuyên cáo nổi tiếng tại Hội nghị Rio, hô hào rằng thiên nhiên là trú sở của các thiên thần và các thiên thần đã trang bị cho rừng rậm, núi cao, sa mạc một nhân cách đáng phải được trân trọng.
Chắc chỉ vì xem nhân loại cũng là một loài súc vật nên UNESCO đã sinh hoạt theo kiểu súc vật. UNESCO tha hồ vơ vét, xâu xé, bóc lột như loài thú hoang, bởi thú hoang vốn là anh em sinh đôi của chủng loại UNESCO!
14.10.2017

Posted by: “Lincoln Nguyen” <luong92647@gmail.com>
Nguồn: Việt Nam Dân Đen

 

Read Full Post »

BUỔI DẠY VIỆT VĂN CUỐI CÙNG

BUỔI DẠY VIỆT VĂN CUỐI CÙNG
Vương Mộng Long
Bởi vì cái vết mổ khó lành trên lưng, nơi mảnh cối 82 ly đã lấy đi miếng xương vai trái, mà tôi có những cái nghỉ 29 ngày tái khám liên tiếp từ giữa năm tới cuối 1969. Vài tuần một lần, tôi lại quá giang tàu bay Mỹ, đi, về, Ban Mê Thuột – Pleiku thăm em gái một người bạn cùng đơn vị (cô ta sau này trở thành thân mẫu của bốn đứa con tôi).

Những lần nghỉ 29 ngày tái khám sao mà dài và buồn tẻ lạ lùng! Loanh quanh có mấy con đường dốc ngắn ngủn trong Pleiku, đi vòng vòng riết cũng chán, tôi buồn. Tới thời điểm ấy thì tôi đã ở Pleiku tới năm thứ ba. Cuối năm 1966, tôi thuyên chuyển từ Vùng 1 tới đó rồi cứ ở lì đó, không đi. Đời lính của tôi lớn lên từ Pleiku. Pleiku chứng kiến tôi trưởng thành từ anh Thiếu úy nhóc tì mới ra trường, cho tới khi tôi là một Thiếu tá chỉ huy một đơn vị Biệt Động lừng danh của Quân đoàn 2, Tiểu đoàn 82 BĐQ/BP/Pleime.
Thành phố Pleiku này rất nhỏ, nhà ở, quán xá sát vách nhau. Đường Hoàng Diệu, đoạn từ Khách sạn Bồng Lai tới dốc cầu Thiết giáp có ít nhất một chục nhà sẵn sàng cho phép tôi vào bếp nhà họ lục cơm nguội ăn lúc đói lòng. Năm 1969 tôi có người bạn làm thày giáo Việt văn tại ba trường trung học ở Pleiku. Anh bận nghỉ phép để cưới vợ và để vận động xin thuyên chuyển về miền xuôi. Anh khéo léo điều đình với các vị hiệu trưởng và được chấp thuận để tôi dạy dùm anh các lớp Việt văn mà anh phụ trách, mỗi lớp hai tiếng một tuần. Anh xin nghỉ ba tháng. Thế là tôi thành thày giáo trong thời gian ba lần tái khám.
Thuở còn đi học, tôi đã từng đi kèm tại gia, đến trường làm thày giáo. Đứng trên bục giảng cũng là một công việc đơn giản dễ chịu, không khó khăn lắm. Thời chiến tranh, có rất nhiều vị thày giáo xuất thân từ quân đội, họ hoặc biệt phái ngoại ngạch, hoặc đã giải ngũ. Không có ông giáo nào đi dạy trong tình trạng như tôi. Mùa Thu 1969, tôi tới trường bằng chiếc xe Jeep mang số 122963 có cái huy hiệu đầu cọp nhe nanh nơi bánh sơ cua. Tài xế là B1 Châu minh Đạt áo quần thẳng nếp, đậu xe một cách kỷ luật bên trái cổng trường chờ tôi suốt hơn hai tiếng đồng hồ. Tôi bận quân phục tác chiến Biệt Động Quân với cái bảng tên màu đỏ, chữ trắng, lon vàng. Tay trái tôi còn treo trước ngực bởi sợi dây băng cứu thương quàng quanh cổ.
Những lớp tôi phụ trách gồm một lớp thuần nữ, hai lớp có nam nữ sinh học chung. Lớp nữ sinh là lớp lớn hơn. Những nữ sinh tuổi mười lăm, mười bảy, ngây thơ và nghịch ngợm. Với họ, thì ít ra có vài cô đã biết tôi lớn lên như thế nào trong cái thành phố bé xíu chật chội này. Cũng vậy, với tôi, tôi nhận ra trong lớp có đôi người đã tới ủy lạo, trao quà cho tôi trong Trại Ngoại Thương 2/Quân Y Viện Pleiku của ông Y Sĩ Trung úy Lê văn Thới sau những chiến dịch lớn như Tết Mậu Thân và Bình Tây mà tôi “có dịp” bị thương nặng.
Những lần thăm viếng đó, các cô ngồi ở cuối giường bệnh, hát cho thương binh nghe. Lần nào cũng thế, tôi đều yêu cầu được nghe một lần (hai lần càng tốt) bài “Kiếp Nào Có Yêu Nhau” của Phạm Duy.
Tôi nợ người hậu phương những bữa cơm thân tình, làm vơi nỗi nhớ gia đình. Tôi nợ người hậu phương tiếng hát ru trong viện quân y, làm giảm cơn đau. Tôi vui vẻ nhận lời giúp bạn đứng lớp Việt văn. Tôi nói về văn học Việt. Tôi coi đây là một dịp để đền đáp thâm tình của người hậu phương Pleiku đã dành cho tôi.
Tôi dẫn những tâm hồn thơ ngây Việt đi vào rừng văn chương Việt, khởi đầu từ tiếng “trống tràng thành” trong Chinh Phụ Ngâm, qua Thanh Tịnh, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, tới Nguyên Sa, Đinh Hùng…
Thời gian đi dạy ngắn ngủi của tôi chắc đã để lại một kỷ niệm khá êm đềm giữa chúng tôi, thày và trò, hậu phương và tiền tuyến. Tôi cảm thấy như thế…
Buổi dạy sau cùng của tôi rơi vào lớp nữ sinh là một kỷ niệm khó quên. Cuối giờ, em trưởng lớp bạo dạn đứng lên hỏi thày,
-“Thày ơi! Ngày mai thày ra trận, cái gì thày sẽ mang theo trong hành trang của thày?”
-“Thày sẽ đem theo hình ảnh đôi mắt người yêu của thày! Đôi mắt âu lo nhìn theo bóng người ra trận.” Tôi mỉm cười,
-“Bộ thày có bồ rồi hả? Sao tụi em không thấy? Bao năm nay, xe thày chỉ chở đàn ông…” Cả lớp ồ lên,
-“Thày có bồ rồi! Người yêu của thày không ở Pleiku, cô ấy ở Ban mê Thuột.” Tôi thú thực,
Một phút im lặng nặng nề. Rồi một cô bé bạo dạn hỏi tôi thêm câu nữa,
-“Thế thày có biết người ở lại sẽ nhớ gì đối với người ra đi hay không?”
Tôi suy nghĩ một lúc rồi gãi đầu nhỏ giọng,
-“Thày chịu thua! Thày không biết người ở lại nghĩ gì!”
Hình như trước buổi học, các em đã hội ý với nhau về câu hỏi này, tôi thấy hai ba em giành nhau đứng lên, một em nhanh miệng,
-“Nụ cười của thày! Người ở lại không quên nổi nụ cười của thày! Nụ cười của thày buồn quá!”
Sau ngày ấy, tôi về đơn vị tiếp tục ra chiến trường. Ba mươi sáu năm sau, tôi tình cờ đọc được trên Đa Hiệu 75 lời nhắn tin của người học trò cũ của mình. Tôi thật là cảm động. Không ngờ, biển dâu thay đổi, giờ này còn người nhớ tới tên mình. Thời gian thấm thoắt, ba mươi sáu năm đi qua. Mỗi người có riêng một hành trang, mang nó suốt đời trên vai…
_____________________________________
Nguồn: http://cuuhocsinhtranquycaphoian.com

Read Full Post »

Nhà gỗ và xác dân

Nhà gỗ và xác dân

FB Trương Châu Hữu Danh

Chỉ trong vòng 40 năm, những cánh rừng bạt ngàn của Việt Nam gần như bị xoá sổ. Bao nhiêu năm chiến tranh, hứng chịu bom đạn, rừng vẫn bạt ngàn xanh “che bộ đội, vây quân thù”. Sau chiến tranh thì rừng mất sạch. Rừng đi đâu? Vào nhà đại gia.

Nhưng đại gia mê gỗ còn thua xa cán bộ. Trong một tháng, chúng tôi đã đi khắp các cánh rừng Tây Nguyên, từ Đắk Nông đến Đắk Lắk, Gia Lai rồi Kon Tum, Lâm Đồng, đâu đâu cũng thấy cảnh rừng bị tàn sát. Sau lệnh đóng cửa rừng tự nhiên của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, nạn phá rừng vẫn tràn lan. Gỗ ở K’Bang (Gia Lai) vẫn ào ạt chạy ra khỏi rừng dù từ rừng ra ngoài chỉ có con đường độc đạo, có barie chắn ngang của lực lượng kiểm lâm. Gỗ ở Ngọc Hồi, Sa Thầy (Kon Tum) cũng ồ ạt chạy ra khỏi rừng cả ngày lẫn đêm – dù muốn qua chốt chặn phải “bay lên trời” mới thoát. Những người bị mang danh là “lâm tặc” than thở với chúng tôi sau lệnh cấm, gỗ vẫn bị đốn hạ, chỉ có tiền bôi trơn là tăng lên và thu nhập của lâm tặc giảm xuống.

Những ngày đi rừng, nhóm phóng viên không quen rừng thiêng nước độc, ai cũng trầy xước khắp người do té ngã, do cây cào, do muỗi vắt đốt chi chít… Có vào rừng mới thấy, “lâm tặc” ở tầng mức thấp nhất có đời sống khốn khổ dưới đáy xã hội. Trung bình, mỗi ngày họ kiếm được vài trăm ngàn đồng nhưng chi phí trong rừng đắt đỏ, lâm tặc nào cũng nghèo xơ xác. Họ là thành phần khốn khổ khốn nạn, đổ mồ hôi và máu chỉ để kiếm cơm sống qua ngày.

Tại một huyện nghèo khác của tỉnh Đắk Lắk, dân cư chủ yếu là người Ê Đê, Gia Rai, các đời lãnh đạo huyện đều kiên quyết chống lâm tặc. Trong nhiệm kì của mình, ông chủ tịch huyện liên tục kêu gọi bảo vệ rừng, chống lâm tặc vì đây là địa bàn diện tích rừng rất lớn. Ông liên tục chỉ đạo lực lượng kiểm lâm, công an triệt phá lâm tặc. Và rồi người dân ngã ngửa khi thấy trong nhiệm kì cuối cùng, ông bắt đầu cho xây một dinh thự gỗ sát nách hạt kiểm lâm. Những cây cột tròn cực lớn, toàn gỗ căm xe, cà chít được ồ ạt chở về. Những tấm ván nguyên khối gỗ hương, gỗ cẩm cũng được tập kết. Những bộ bàn ghế lớn đến mức phải vài chục người khiêng cũng được xe tải loại lớn đưa về nhà ông. Trao đổi với chúng tôi, ông chủ tịch huyện có vẻ khá tự hào khi căn nhà này được ông thuê thợ từ tận miền Trung vào chế tác, ròng rã suốt 3 năm mới xong. Trong cái thị trấn bé nhỏ, nhà ông và những vị cán bộ khác, được làm từ máu của rừng.

Tôi ở Long An, mỗi khi có khách về tôi thường dẫn họ đi tham quan di tích lịch sử cấp quốc gia Nhà trăm cột – niềm tự hào về kiến trúc của người dân Long An. Căn nhà này của một đại gia siêu giàu thời phong kiến, khi mà gỗ rừng còn nhiều vô kể. Thế nhưng, khi tham quan căn nhà của ông chủ tịch huyện nghèo, tôi thấy Nhà trăm cột chỉ là “con muỗi” so với dinh cơ này. Cho làm nhà bếp, có lẽ ông cựu chủ tịch cũng không thèm chấp. Tôi nghĩ, lâm tặc có lẽ sẽ chạnh lòng khi thấy những gì quý nhất của rừng nằm ngạo nghễ ở nhà cán bộ… chống lâm tặc.

Trên khắp dải đất hình chữ S này, nhà gỗ triệu đô không hiếm. Nhưng những căn nhà này không thuộc về giới siêu giàu, giới doanh nhân. Những căn nhà này, trớ trêu thay, lại là của cán bộ. Sau lệnh đóng cửa rừng, các món đồ gỗ, nhà gỗ này càng trở nên vô giá. Một thực tế là nhà cán bộ càng to thì lũ càng lớn, dân chết càng nhiều. Những căn nhà xa hoa này được đánh đổi bằng mạng dân. Các vị ngủ có ngon không khi dưới chân mình là xác dân lập lờ trong lũ dữ?

Nguồn: https://www.facebook.com/huudanh.truong.5/posts/1173564962743909
via Bauxite Việt Nam

Read Full Post »

Quý bạn nhấn vào hàng tiêu đề để đọc toàn văn trên BBC tiếng Việt

Luật sư Schlagenhauf ‘theo dõi sát vụ ông Thanh’

Trích:

“Tôi được biết là sức khoẻ ông Trịnh Xuân Thanh có phần tốt hơn trước, trông không thảm hại như lần đầu tiên xuất hiện trên truyền hình hôm 3/8,” bà luật sư người Đức nói. “Trước đó chẳng bao giờ trông ông ấy như vậy.”

Bà cũng bình luận thêm rằng theo nhận xét cá nhân của bà thì ông Trịnh Xuân Thanh tại thời điểm “thảm hại” đó rất có thể “bị đánh thuốc phiện, hoá chất hay bị hành hạ thế nào đó khá khủng khiếp”.
….

Những “sai lầm” của Việt Nam trong việc “ra tay dưới một hình thức mà ở tầm quan hệ giữa các quốc gia chẳng ai làm” rồi sau đó làm “đà điểu rúc đầu”, bà Schlagenhauf nói, đã dẫn đến những phản ứng giận dữ ngày càng tăng từ phía Đức.

Cho đến nay, Đức đã trục xuất hai nhà ngoại giao làm việc tại Đại sứ quán Việt Nam tại Berlin, rồi tiếp đến là việc tạm ngưng quan hệ đối tác chiến lược vốn đã được thiết lập từ 2011, và ngưng ký kết triển khai các dự án mới với Việt Nam.

Read Full Post »

Older Posts »