Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Lời cám ơn

Hân hạnh chào đón bạn đọc,

Chân thành cám ơn các tác giả đã cho phép chúng tôi sử dụng bài viết, thơ, truyện, nhạc, tranh vẽ, ảnh chụp,…trên Blog này;

Chân thành cám ơn trước những tác giả mà chúng tôi chưa liên lạc, nhưng đã mạn phép* quý vị đưa bài, hình ảnh, tranh vẽ, ảnh chụp,…giới thiệu đến bạn đọc;

Mến chúc quý vị và quý bạn sức khoẻ, bình an,

Trân trọng,

SANYO DIGITAL CAMERA

Sầu Đông  Nguyễn Thọ Chấn

* Trong trường hợp quý vị có những điều cần lưu ý, xin vui lòng cho biết qua điện thư. Chân thành cảm ơn quý vị.

Chuyện Này Xoay Chuyện Khác

Đôi giòng:

Cả Ngố Họ Trịnh là bút hiệu của Trịnh văn Dụ, tác giả của một bài báo viết về kinh nghiệm di dân của chính gia đình ông trên báo The Gazette ở Montréal ( Bài đã đăng trên Blog Sầu Đông này). Mới đây tác giả lại đã gởi cho trang chủ cuốn Chuyện Này Xoay Chuyện Khác, là cuốn thứ ba trong một bộ ba cuốn (trilogy) mà hai cuốn kia là Chuyện Nọ Xọ Chuyện Kia, Chuyện Kia Xiá Chuyện này. Sách trình bày đẹp, với những bài phản ánh những sinh hoạt gia đình và xã hội của tác giả trên đất Canada, không quên những chuyện kể về những đoạn đường ‘gồ ghề’ tác giả đã trải, đặc biệt là sau 30/04/1975 tại Việt Nam.

Sách ghi “Tác giả xuất bản để làm quà tặng kỷ niệm”. Cám ơn bạn hiền vẫn không quên một người bạn đã từng ngồi chung lớp năm cuối ở CVA Sàigòn.

SĐ-NTC

Chuyện Này Xoay Chuyện Khác -  Trịnh văn Dụ

Chuyện Này Xoay Chuyện Khác – Trịnh văn Dụ

Ít hàng tự biên của tác giả Chuyện Này Xoay Chuyện Khác

Ít hàng tự biên của tác giả
Chuyện Này Xoay Chuyện Khác

Đôi giòng:

Phùng Annie Kim nhiều người biết và hâm mộ tài viết của bà.  Bà cũng không xa lạ với nhiều cựu học sinh của một số trường trung học ở Sài Gòn xưa, trong đó phải kể tới những cựu học sinh của trường Trung học Chu Văn An vào cuối những năm 50 của thế kỷ trước ( các cựu học sinh này ngày nay là những lão ông trên bảy bó).

Xin chia vui cùng tác giả và ‘Đại gia’ Ph.D. , một đồng môn cùng cấp lớp ở CVA, từng là một bạn đồng nghiệp thân mến trước 1975 ở Miền Nam.

SĐ-NTC

Bài số 4311-14-29711vb2082514

Tác giả là một nhà giáo, định cư tại Mỹ theo diện HO năm 1991, hiện là cư dân Westminster, California. Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của Bà là “Kock and Me / Vi trùng lao và Tôi,” từ tháng Tư 2013 tới nay đã có hơn 300,000 lượt người đọc.
Viết Về Nước Mỹ 2014, với 14 bài, trong đó có bài “Chú Lính Mỹ,” Phùng Annie Kim đã nhận giải danh dự.
1_vvnm
Tác giả nhận giải từ Dân biểu Liên Bang Alan Lowenthal.

***

Đi học từ nhỏ đến lớn, từ lớn đến già, về già sống ở xứ Mỹ, chưa bao giờ trong đời học sinh tôi được lãnh thưởng và có niềm vui được bóc tờ giấy gói bên ngoài và ngắm nghía xem trong gói đó gồm các món gì .
Nói vòng vo để trở về nhan đề là cái giải thưởng tôi vừa nhận mấy hôm nay, giải thưởng vô chung kết “Viết về nước Mỹ”của Việt Báo năm thứ XV được tổ chức ngày 17 tháng 8 năm 2014 tại nhà hàng Moonlight.
Đây là lần đầu tiên trong đời tôi đi lãnh giải thưởng các bạn ạ. Ông xã tôi xách về nhà một gói nằng nặng. Có cái bao thơ… nhè nhẹ ông đã thủ trong túi áo vest rồi. Tôi giở chậm rãi từng món một xem đó là món gì. Một tờ chương trình “Viết về nước Mỹ và Bé viết văn Việt” trong đó có đầy đủ các khuôn mặt trúng giải. Bốn cái bằng chứng nhận “Certificate of Recognition” có đóng mộc vàng, chúc mừng đã đóng góp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo tồn văn hóa Việt tại nước Mỹ của bà Janet Nguyễn, bà Loretta Sanchez, ông dân biểu liên bang Alan Lowenthal và nghị sĩ tiểu bang Lou Correa. Một quyển sách “Viết về nước Mỹ” 2014 bìa cam còn nóng hổi trong đó có bài của tôi. Ngoài ra còn có một tấm “plaque” màu nâu khắc tên tôi do Việt báo tặng để tôi treo tường, giữ làm kỷ niệm của “một phút huy hoàng” và một thời gắn bó với Việt Báo qua những bài viết.

*
Ông xã thấy tôi chọn cái áo màu đỏ, ông chỉ cười cười:
- Ngoài trời nóng chín mươi độ, nắng chói chang mày mặt mà bà chơi cái áo màu đỏ chóe. Bà muốn làm mờ mắt thiên hạ hả?
-Chóe mắt ông thì có. Đeo kính râm vô đi ông ơi!
Nói thì nói vậy chưa tới bốn giờ, ông đã nhắc nhở bà sửa soạn đi sớm để lấy chỗ đậu xe và có thời gian chụp hình với các bạn. Thằng con và đứa cháu gái đi chung. Tới nơi, nhìn tờ chương trình, hai đứa ngạc nhiên, trố mắt nhìn bà:
-Năm rưỡi khai mạc, chưa đến bốn rưỡi, bố mẹ đã có mặt rồi.
-Ờ, tại mẹ …nôn quá con ơi! Thôi chịu khó ra quầy, hai đứa kiếm rượu chát, bia bọt uống tạm, ăn chút ” appetizer” bậy bạ cho qua cơn …chờ đợi này con nhá.
Thấy hai đứa vui vẻ ăn uống chuyện trò ở quầy với vài người bạn trẻ mới quen, tôi cũng yên tâm và cám ơn cái quán “bar” này cứu bồ tôi đã trót hành hạ hai đứa đi sớm quá vì cái giải thưởng này.
Ấn tượng nhất là cái màn đồng phục làm cho mọi người phải chú ý. Năm ngoái, dàn tiếp tân là các cô mặc áo xanh nên bìa sách in màu xanh để “anh mến lá sân trường”. Năm nay các cô đổi màu áo cam nên bìa sách in màu cam làm anh nhớ đến mấy chàng mặc áo màu cam, tay cầm túi rác, bị phạt làm lao động công ích hai bên đường dọc theo freeway. Sang năm, đề nghị các cô chọn áo màu vàng để “anh về yêu hoa cúc” cho trọn hai câu thơ tình của nhà thơ Nguyên Sa.
Bận rộn, lộn xộn và có nhiều vấn đề vẫn là cái khâu kiểm vé, xếp chỗ phải không cô Hằng? Vậy mà các cô giải quyết các trục trặc về chỗ ngồi một cách nhẹ nhàng, êm đẹp. Hơn hai mươi giải thưởng thế mà cô Hằng nhớ tên, có khi còn nhớ mặt nữa. Các tác giả đều được cô tặng cho một bảng tên gắn trên áo để bà con dễ nhận ra và làm quen nhau. Một tấm pa-nô “Viết Về Nước Mỹ 2014″ treo từ trên cao làm “phông” cho bà con tha hồ chụp hình. Khoảng 40 bàn xếp quanh một không gian thoải mái được trang trí hoa tươi và mỗi người có một tờ chương trình trên bàn để bà con theo dõi các tiết mục và các nhân vật lãnh giải.
Chương trình văn nghệ năm nay vắng tiếng hát của Quang Tuấn, Lệ Thu và các ca sĩ ban Tiếng Tơ Đồng. Một Quỳnh Dao ra đi nên Kim Tước hụt hẫng. Làm sao Kim Tước có thể đứng trên sân khấu hát lại những bản nhạc kỷ niệm như “Thanh bình ca” với nỗi ngậm ngùi tiếc thương cô cháu gái? Thương Linh và các ca sĩ khác cùng với ban nhạc “The Nate Light Trio” gồm Nate Light chơi đàn bass, Sam Hirsh chơi piano, Evan Stone chơi trống sẽ cùng biểu diễn những bản nhạc Jazz trong buổi lễ này. Thụy Trinh xinh đẹp và duyên dáng cùng với Nguyễn Hoàng Dũng vẫn là hai MC quen thuộc gắn bó với các buổi lễ “Viết Về Nước Mỹ” hàng năm.
Nhờ đi sớm nên tôi có dịp lang thang gặp các anh chị trong ban tổ chức, ban giám khảo, chào hỏi, chuyện trò, chụp hình với quý vị “chức sắc”.
Tôi gặp chị Nhã Ca, kéo chị chụp chung vài tấm hình với anh Từ và anh Hải. Có người gọi chị là chị Nhã vì lúc nào chị cũng diu dàng, nhã nhặn, đằm thắm trong chiếc áo nâu giống như chị Kiều Chinh. Hai chị càng lớn tuổi càng có đời sống tâm linh sâu sắc và đều hợp với “tông” màu nâu là màu của đất, của sự khiêm tốn, hiền hòa.
Tôi ngồi bàn số 6 cùng với Trần Du Sinh và chị Lê Nguyễn Hằng- Nguyễn Thach Hãn nên có dịp chuyện trò tíu tít. Nhìn quanh, tôi nhận ra chị Phương Hoa, OrChid Thanh Lê ngồi cạnh bàn bèn tới làm quen với hai cây bút cự phách này. Cạnh đó còn có Triều Phong, chị Võ Quách Thị Tường Vi. Rất tiếc lúc đó lăng xăng và đông các bạn quá nên chưa làm quen với cô em Trương Ngọc Anh dù là cùng dân Gia Long ngày xưa. Tôi chưa nhận ra Song Lam và anh Philato Tô Văn Cấp, tổng cộng chúng tôi có mười ngừơi được vào chung kết. Lần đầu tiên tôi đi lãnh giải còn là niềm mong ước được gặp những bạn văn mình ái mộ.
Chương trình bắt đầu là khuôn mặt khả ái gắn liền với giải thưởng này từ năm đầu tiên đó là chị Kiều Chinh. Chị nhắc lại con đường dài lịch sử suốt mười lăm năm của mục “Viết về nước Mỹ” và lòng tri ân của Việt Báo đến bạn đọc, đến những khuôn mặt bây giờ không còn nữa như cụ Nguyễn Gia Mai là tác giả đầu tiên, Hoà Thượng Thích Mãn Giác, nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, nhà văn Thảo Trường, Bà Trùng Quang, gần đây là ca sĩ Quỳnh Dao…
Tiếp theo, mọi người đều yên lặng khi MC Thụy Trinh nhắc tới tiết mục kế tiếp là tiếng hát Quỳnh Dao với bài Hoàng Hạc Lâu, thơ Vũ Hoàng Chương cảm dịch theo Thjôi Hiệu, Cung Tiến phổ nhạc.
Trên màn hình lớn, mọi người có dịp nhìn lại hình ảnh cô thanh khiết, giản dị, tự tin và cũng rất Huế trong chiếc áo dài gấm trắng. Cô thật nhỏ bé trước một dàn nhạc hùng hậu, tiếng hát của cô cất lên trong và cao như chim hoàng hạc:

Xưa hoàng hạc bay vút bóng người
Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc đi đi mãi
Trắng một màu mây vạn vạn đời…

Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!

Có những đôi mắt chớm lệ của những người thân, bạn bè khi nhớ đến những kỷ niệm về cô gái gốc Huế Đoan Trang như cái tên thật của cô, đa tài mà hòa nhã, thông minh mà khiêm cung, sống tử tế, dễ thương với mọi người. Cánh chim hoàng Hạc ấy đã bay đi mãi, không bao giờ trở lại trên trần gian này với những người yêu nhạc và yêu văn của cô.
Thượng nghị sĩ Lou Correa, người gắn bó nhiều với các sinh hoạt của cộng đồng người Việt và riêng với Việt Báo, ông là người thường có mặt trong các buổi lễ phát giải của Việt Báo. Ông sắp mãn nhiệm kỳ năm nay.
Tiết mục phát giải đầu tiên dành cho các cháu “Bé viết văn Việt”. Được thành lập từ năm hai ngàn lẻ hai, Việt Báo mở trang “Việt báo thiếu nhi” khuyến khích các cháu viết, làm thơ, vẽ tranh về các đề tài gia đình, nhà trường, bạn bè, quê hương, nước Mỹ…Mới ngày nào hai cháu Quốc Nam và Bảo Ngọc còn bé xíu, lon ton chạy theo mẹ là chị Lan Phương, bây giờ Quốc Nam trông chững chạc ra vẻ người lớn và Bảo Ngọc ra dáng một cô thiếu nữ sắp vào đại học. Cả hai cháu nói tiếng Việt lưu loát và hoạt bát, điều khiển chương trình phát giải cho các bé một cách tự nhiên như MC “nhí” nhà nghề.
Dễ thương nhất là nghe các cháu trúng giải nói tiếng Việt rành rẽ, phát âm chính xác. Cháu Phan Mai Hân mười hai tuổi trúng giải viết văn, cháu Nguyễn Vân Anh tám tuổi trúng giải thơ, cháu Joleen Nhã Trương sáu tuổi trúng giải chụp ảnh. Nhìn đôi kính cận của Mai Hân, chiếc áo dài Việt nam, cái khăn xếp trên đầu của Vân Anh và Nhã Trương, trông các cháu đáng yêu chi lạ.
Chương trình được thay đổi bằng tiết mục văn nghệ với hai bài hát “SaiGon Blues” và “Bay và Rơi” thơ và nhạc của thi sĩ Trần Dạ Từ do Thương Linh trình bày. Tôi đã được nghe Thương Linh hát vài lần. Tiếng hát của cô có âm vang và mạnh khi cô rung lên đến nốt nhạc cao nhất để rồi hạ xuống thật truyền cảm, nhẹ nhàng trong những khúc Jazz buồn.
Sau phần văn nghệ xen kẽ là phần giới thiệu những nhà tài trợ cho giải thưởng từ nhiều năm qua như ngân hàng Wells Fargo Bank, hãng điện Southern California Edison, công ty Pharmatec… Tiếp đó, chị Lê Tường Vi, một thành viên trong ban tuyển chọn lên sân khấu, giới thiệu về cuốn sách “Viết Về Nước Mỹ” năm hai ngàn mười bốn đã thành hình, bìa màu cam, gồm sáu mươi bài viết. Đây là một thành quả lớn lao, kéo dài đều đặn từ năm hai ngàn đến năm hai ngàn mười bốn, suốt mười lăm năm với mười bảy quyển sách ra đời, hai trăm chín mươi sáu giải thưởng được trao, hơn mười ngàn trang sách được in, trên bốn ngàn ba trăm bài viết được chọn lọc trong số hàng chục ngàn bài gửi đến tòa soạn.
Nhìn quyển sách “Viết Về Nước Mỹ” năm thứ mười lăm nằm trong tay chị Lê Tường Vi, tôi nghĩ đến quyển sách “Viết Về Nước Mỹ” với một nội dung khác đang được thành hình cho năm thứ mười sáu. Từ ngày một tháng bảy năm nay, các bài viết vẫn tiếp tục gửi về dành cho giải thưởng năm sau. Mỗi ngày, bạn đọc chúng ta đều có bài mới trên báo giấy và Việt Báo on line.
Chương trình đi vào tiết mục chính là phát chín giải thưởng đặc biệt cho các anh chị Nguyễn Đặng Bắc Ninh, Tom Tom, Nguyễn thị Mão, Ngô Văn Thu, Lê Văn, Nguyễn Thị Hòa Nam, Nguyễn Cao Thăng, Nguyễn Bích Thủy, Nguyễn Thế Bài. Sau đó là giải danh dự cho bảy anh chị Phùng Annie Kim, Philato ,Lê Nguyễn Hằng và Nguyễn Thạch Hãn, Song Lam, Triều Phong, Võ Quách thị Tường Vi, Trương Ngọc Anh.
Cả sân khấu rực sáng với máy chụp hình, máy quay phim hướng về những nụ cười tươi rói. Các tà áo dài xanh ,đỏ, hồng. tím rực rỡ của các chị xuất hiện trên sân khấu, nhận lãnh phần thưởng từ các vị chức sắc trong cộng đồng, các anh chị trong tòa soạn Việt Báo, các nhà tài trợ, các vị giám khảo, các bạn văn. Vui nhất là khi bước xuống hậu trường, có một chị cầm sẵn phong bì… mong mỏng đưa tận tay các tác giả trúng giải.
Anh Nguyễn Xuân Nghĩa vẫn thường giải thích về vai trò của anh làm trưởng ban tuyển chọn gồm bảy giám khảo và ba đại diện Việt báo khi cầm cân nẩy mực, chọn lựa các tác giả trúng giải. Anh bảo có những bài viết làm cho ban tuyển chọn nhức đầu vì bài nào cũng hay, không biết phải chọn bài nào, bỏ bài nào. Sau khi tóm lược giải thưởng và ban giám khảo, anh tuyên bố giải thưởng “hoa hậu” năm nay rơi vào hai bài viết “Vietnam Museum, Bảo Tàng Của Người Lính Bị Bỏ Quên”, và “Memorial s Day 2014″, tác giả là chị Phương Hoa.
Giải viết văn Trùng Quang thuộc về cô Orchid Thanh Lê với ba bài “Đi Tìm Tên Một Người Vô Danh”, “Thầy Việt, Trò Mỹ” và “Vết Thương Xát Muối”. Giải “á hậu” thuộc về một anh du học sinh rất trẻ có cái tên Trần Du Sinh với hai bài ” Lính Mỹ Gốc Nail” và “Ó Biển Cô Đơn”.
Trên sân khấu là những hình ảnh minh họa cho những đoạn văn trích của ba tác giả được đọc lên cho mọi người thưởng lãm văn tài của họ và sau đó là màn phát biểu cảm tưởng. Chị Phương Hoa đã từng nhận giải đặc biệt năm ngoái, năm nay “hoa hậu” Phương Hoa với nụ cười tươi và càng vui hơn vì con trai và cháu nội của chị còn ở lại Việt nam được qua Mỹ chia vui với mẹ và bà nội trong buổi lễ ý nghĩa này. Chị Orchid Thanh Lê nhỏ nhắn, vừa đẹp vừa thùy mị, chị kể lại rất khúc chiết, cảm động và chân thành về lý do và nguyên nhân ra đời của các bài viết đầy tính nhân bản của chị. Du Sinh kể lại ngắn gọn về cuộc đời của tác giả cũng là nhân vật chính trong các bài viết.
Sau khi phát giải là tiết muc xổ số hấp dẫn với các giải thưởng từ các nhà tài trợ, chúng tôi được thông báo vào ngày 20 tháng 8, nhà xuất bản Indiana University Press sẽ phát hành quyển “Mourning Headband for Hue” bản dịch của Olga Dror từ quyển “Giải khăn sô cho Huế”, tác giả là nhà văn Nhã Ca.
Chương trình buổi lễ bắt đầu lúc năm giờ rưỡi, kéo dài hai tiếng và kết thúc đúng giờ. Màn ăn tối vẫn là màn mọi người chờ đợi vì ai cũng đói bụng cả rồi. Nhà hàng MoonLight phục vụ các món ăn quen thuộc như đi ăn đám cưới ở nhà hàng Tàu nào là súp cua, cải xanh xào nấm, vịt quay bánh bao, tôm chiên sốt mayonnaise với hạt walnut, cơm chiên cá sốt chua, bò lúc lắc..toàn là các món ngon và hấp dẫn. Phần kết thúc là màn cắt bánh và chia tay. Đồng hồ chỉ hơn 10 giờ.
Cuộc vui nào rồi cũng tàn. Như Ngưu Lang Chức Nữ, các anh chị lãnh giải thưởng năm nay đều hẹn gặp nhau mỗi năm một lần vào mùa mưa ngâu tháng tám sang năm.
Niềm vui nhất của tôi tối hôm nay là tôi được gặp các bạn văn. Chỉ tiếc là tôi không biết Văn Bút có một buổi hội ngộ vào buổi sáng với các bạn văn cũ và mới. Các bạn có một màn ăn uống tưng bừng, chuyện trò rôm rả, hình chụp lia lịa tại văn phòng làm việc của anh Vũ Saigon gần chợ Tam Biên làm tôi tiếc hùi hụi. Từ nhà tôi đến chợ Tam Biên có …năm phút. Tuy không đi dự nhưng biết được tin tức này nhờ Khôi An cho địa chỉ i-meo và tôi… làm đơn xin gia nhập nhóm. Được hai ông chủ xị “Tưng” (Nguyễn Viết Tân) và “Bo Ma” ( Bồ Tùng Ma ) “phê chuẩn” và các anh chị, các em nhóm Việt Bút “queo khâm” nồng nàn thắm thiết làm tôi vô cùng cảm động. Mới vô nhóm, tôi…xây xẩm mặt mày vì nhiều thông tin. Tôi được đọc các i-meo và cười… một mình trong đêm khuya vì các câu chuyện và các bài thơ của anh Tưng và các bạn.
Quý em hỏi tôi chị vô nhóm này trụ được bao lâu. Chị Lê Hằng mới vô mấy ngày mà đã …lùng bùng cái lỗ tai rồi. Tôi bèn làm một bài thơ con cóc trình làng vừa tâm sự vừa trả lời các câu hỏi của các em:

Năm nay “tớ”đã sáu mươi nhăm
Xuân xanh tuổi…đẹp như trăng rằm
Ngoặc đơn ngoặc kép vòng bên má
Chân vịt chân chim xếp thành lằn

Mắt mũi kèm nhèm chẳng biết ai
Nhớ nhớ quên quên từng tháng ngày
Lính mới tò te vô Việt Bút
Đã thấy… lùng bùng cái lỗ tai

Tuổi này không biết trụ bao lâu
Không sao, cũng thử một “tăng” đầu
Vui quá có khi quên tuổi tác
“Trường đồ tri mã lực” biết đâu!

Thế là từ đây, trong nhóm Văn Bút, tôi có một lô các em gái như Iris, Khôi An, Phương Dung Donna… Có em tôi chỉ biết tên, xem hình như Thanh Mai, Ngọc Anh, Bảo Trân… Chị lớn thì có chị “Tí Xưng”(Bảo Xuân) Phía các anh coi bộ “âm thịnh dương suy”, quay đi quay lại có anh “Tưng”, ” Ma Bo”, em trai thì có Cao Minh Hưng, Vũ Saigon, chú Sáu Steve Brown… và còn ai nữa tôi sẽ làm quen dần trong những ngày sắp tới.
Buổi lễ phát giải thưởng Việt Báo đã qua nhưng dư âm vẫn còn lắng đọng trong tâm tư của những người có “duyên” văn chương với Việt Báo. Ngôn ngữ và văn hóa Việt còn tồn tại thì đất nước sẽ không bao giờ bị xóa tên trên bản đồ thế giới cho dù bị đe dọa từ các thế lực hùng mạnh nào .Cầu chúc cho ” Viết Về Nước Mỹ” sống lâu, sống mạnh trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại và luôn luôn nhận được lòng tin yêu của bạn đọc xa gần.
California, 22 tháng 8, 2014
Phùng Annie Kim

Cuối tuần này ta thấy những tin nóng như:

-  Điếu Cầy ‘bị công an ép làm đơn xin ra tù’ (BBC)

- IS (Nhà nước Hồi giáo) lại chặt đầu người để cảnh cáo (BBC)

- Ngoại trưởng Kerry kêu gọi thành lập liên minhtoàn cầu chống quân khủng bố Hồi giáo (VOA)

Ngoài tin trong nước về việc công an Việt Nam ép Blogger Điếu Cầy làm đơn xin ra tù cho thấy một thủ đoạn thường dùng của nhà nước việt nam đối những người khác chính kiến mà nhà nước trong tay đảng cộng sản không thể áp chế mãi được trước dư luận và áp lực quốc tế, cũng như quốc nội thì tin về những hành vi hung bạo, quá dã man của cái gọi là Nhà nước Hồi giáo (IS) đối với các tù binh trong tay bọn chúng khiến người xem hình ( ngay cả những người có máu lạnh cũng phảnh ‘lạnh người’)

Quý bạn nhấn vào các hàng dẫn bên trên để đọc toàn văn.

Ngoài ra còn website  www.syrianfight.con cho thấy những hình ảnh kinh khủng và ghê tởm mà IS đã hành xử!

 

nguyenchan:

Chiếc Solex và tà áo dài là một phối hợp ăn ý giữa sản phẩm Pháp và y phục của phụ nữ Việt…
SĐ-NTC

Originally posted on OVV:

SG-Solex00

Xin mượn tạm danh hiệu ‘Người đẹp Bình Dương’ của nữ minh tinh một thời nổi tiếng, Thẩm Thúy Hằng, để đặt tên cho đoạn viết này về Người Đẹp Sài Gòn. Theo nhận định có phần chủ quan của tôi, những người đẹp Sài Gòn vào thời 60s có những nét đẹp mà các cô gái ngày nay không thể nào sánh bằng. Hãy tưởng tượng một hình ảnh người đẹp Sài Gòn qua thơ Nguyên Sa mà nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã phổ nhạc:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

View original 1 845 more words

Đôi giòng:

Tác giả, như tự sự của bà, là một phụ nữ Miền Nam chất phác, thuần hậu.  Là cựu nữ sinh lớp đệ nhất Trung học Gia Long (Sàigòn), một phụ nữ hai con đã ly dị chồng, mà người chồng sau là một người lính hải quân Hoa Kỳ vào giai đoạn chiến tranh Việt Nam, bài viết của bà đã gây một bất ngờ đối với nhiều bạn đọc gốc Việt…

Chúng Tôi Mọc Rễ Và Yêu Thương…

Lệ Hoa Wilson

Tác giả đã nhận giải đặc biệt Viết Về Nước Mỹ 2011. Bà là một Phật tử, pháp danh Tâm Tinh Cần, nhũ danh Quách Thị Lệ Hoa, sinh năm 1940 tại Cần Thơ. Hai bài viết đầu tiên của bà là tự sự của một phụ nữ Việt thời chiến, kết hôn với một chàng hải quân Hoa Kỳ. Cưới nhau: 1972. Tới Mỹ năm 1975. Từ 1985, hai vợ chồng mở v/p Di Trú và Thuế Vụ tại Long Beach. Bài viết mới nhất là một hồi ức về mảnh đất tạm dung và quê hương yêu dấu. Tựa đề được đặt lại theo nội dung bài viết.

1. Việt Nam

Chúng tôi gặp nhau và thành hôn năm tôi 30 tuổi, đã một lần ly dị và có hai đứa con.Ông xã thì cũng 30 tuổi và còn là trai tơ. Khi bà chị biết chúng tôi muốn làm đám cưới, bà nói thẳng thắn:
“em ơi, một khi lấy Mỹ thì sẽ bị người ta cười chê thúi đầu, vậy sao không lựa một thằng tóc vàng, mắt xanh, cao lớn, đẹp trai để bù lại mà lại đi lấy một thằng tóc đen, mắt nâu, hơi lùn nữa, vậy được cái gì?”.

Tôi nhìn người chị, buồn bã nói :
“Chị Hai ơi, em đã có hai đứa con rồi. Thật khó khăn khi em phải vừa kiếm chồng cho em vừa kiếm cha cho hai đứa nhỏ. Ảnh thương em và đối với hai đứa nó thật tốt. Mấy người khác chỉ thương em mà thôi, không cần hai đứa nhỏ!”

Và quả nhiên Trời Phật cũng thương cho những nỗi bất hạnh mà tôi đã nếm trải trong đời nên đã cho tôi không những một người chồng mà còn là một người cha và là một người ơn nữa.

Vùng I chiến thuật lấy Đà Nẵng (nơi tôi và ông xã gặp nhau) làm thủ phủ nên có rất nhiều bộ chỉ huy trong đó có nhà thương của hải quân Mỹ là trung tâm y tế cho tất cả binh sĩ Mỹ trong vùng. Qua khỏi ngã tư Mỹ Khê, quẹo mặt để đi vào núi Non Nước, nằm về phía tay mặt là nhà thương. Tôi đoán nó chiếm trọn ít nhứt là năm mẫu đất với các trung tâm y tế mổ xẻ, chữa trị đủ loại, nhà ở cho binh sĩ và dĩ nhiên là một nhà xác!

Trước mặt nhà thương là một bãi đáp trực thăng để tải các thương binh, các chiến sĩ tử trận từ các chiến trường vùng I. Mỗi lần trực thăng đáp xuống thì con đường xe chạy được các quân cảnh Mỹ chận lại, từng chiếc cáng được vội vã khiêng ra chạy thẳng vào cổng chánh, có người sẽ tỉnh lại với một cái chân nằm đâu đó trong lá rừng rậm rạp, có người sẽ được trở về quê hương dưới lá cờ phủ kín, có người sẽ ngậm ngùi từ biệt những giấc mơ vì cánh tay đã mất, gương mặt đã bị tàn phá, linh hồn đã bị tổn thương…

Vì ông xã thuộc binh chủng hải quân và đóng quân trong nhà thương nên tôi đã có biết bao lần phải ngừng xe, tắt máy, ngồi nhìn những bước chân vội vã, những gương mặt chịu đựng, những ánh mắt buồn hiu của những người tải thương. Mỗi khi có một cái cáng phủ cờ Việt Nam hay Mỹ thì những người Mỹ xuống xe đứng nghiêm chỉnh đưa tay chào vĩnh biệt.

Tôi ít khi thấy thương binh ViệtNam, có thể vì họ được chuyển tới một trung tâm y tế khác. Chỉ có một lần tôi thấy một cái cáng được khiêng ra khỏi cửa trực thăng, lá cờ Việt Nam phủ kín. Tôi không thấy mặt cũng như binh chủng của tử sĩ nhưng một người đàn bà đầu tóc rũ rượi , cánh tay quấn băng treo vào vai còn đẫm máu đang lảo đảo nhảy ra khỏi cửa trực thăng. Tóc chị trước kia chắc được cột lại bằng dây thun, nay chỉ còn một vài lọn lỏng lẽo trên đỉnh đầu còn bao nhiêu thì thả dài rối rắm xung quanh mặt.

Bạn ơi, hình ảnh đau thương nhứt không phải là cái cáng có người chết nằm phủ kín lá cờ vàng chói, không phải dòng nước mắt đầm đìa trên mặt người sống sót mà là một miếng băng vải mỏng dùng để quấn vết thương. Nó bị dơ vì đất và máu. Nó chỉ dài bằng một chiếc khăn mùi xoa. Nhưng nó lại được người vợ trân trọng để ngang lên trán, dùng một cọng lạt dừa cột vòng lại sau đầu. Mảnh khăn tang được vội vã quấn tạm thời nhưng sự ly biệt thì chắc chắn ngàn trùng xa cách. Người thiếu phụ Việt Nam đang để tang cho người chồng chiến sĩ đã hy sinh vì tổ quốc!

Tôi không ra khỏi xe chào vĩnh biệt người chiến binh nhưng gục mặt vào tay lái nước mắt tuôn rơi khóc thương cho những đứa trẻ đang quẩn quanh trong thôn xóm chờ cha trở lại . Tôi tưởng tượng tới lúc gia đình nghe tiếng chuông reo, mở cửa ra và thấy một người binh sĩ đứng trước mặt với cái nón cầm trên tay. Người mẹ ở ngàn dặm xa kia có ngã xuống vì trái tim tan nát ?… Một cái gì dó nhen nhúm trong tâm hồn tôi. Chiến tranh tiếp diễn cho tới một lúc nào đó thì hòa ước được ký, quân đội Mỹ rút lui.

Anh nấn ná xin ở lại Việt Nam và là nhóm binh sĩ cuối cùng ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất vào đầu năm 73. Tháng sáu 73, tôi sanh đứa con trai đầu lòng của anh. Tháng Chín năm 74 tôi qua Mỹ thăm anh tiện thể thăm dò chuyện xuất nhập cảng. Chúng tôi dự định chờ anh ra khỏi quân đội và sẽ về sinh sống tại VN. Điều kiện để tôi nói “ I do” là chúng tôi phải ở ViệtNam và sẽ có bảy đứa con. Tôi nào biết trời cao đất rộng là gì, chỉ biết rằng tôi rất ham con và bảy đứa là một con số chấp nhận của gia đình VN, đâu nghĩ rằng đối với người Mỹ hai đứa là lý tưởng, ba đứa là chau mày, bốn đứa là nổi điên, năm đứa là tan nát, sáu đứa là thảm họa mà bảy đứa là… rồi đời!

Thời cuộc thay đổi, đến tháng Ba năm 75 thì tôi quay về Việt Nam để đón các con. Lúc đó tôi đang có thai đứa thứ hai được bảy tháng. Khi còn bên Mỹ, qua tin tức trên báo và tin rỉ ra trong quân đội thì chúng tôi biết chắc là Saigon sẽ mất, nhưng khi về Việt Nam thì Saigòn vẫn vui vẻ, vẫn bình yên. Rạp chiếu bóng vẫn hát, tiệm ăn vẫn mở cửa, đám cưới vẫn tiến hành, tình yêu vẫn nở hoa… Tôi thầm cằn nhằn báo chí Mỹ thật là dỏm, toàn là đưa tin vịt không hà.

Nhưng với ngày qua, mọi việc có vẻ tệ hơn. Nhóm người quen bán hột xoàn với mẹ con tôi cùng nhau an ủi rằng “bà Mỹ” còn ở đây chưa chạy thì lo gì. Ông xã tôi kêu điện thọai ngày một hối thúc tôi ra đi. Tôi trả lời là má tôi không cho đi, sợ về Mỹ sanh rồi lấy ai săn sóc, làm sao có củi lửa để hơ, có lá xông để tắm, có nghệ vàng để thoa mặt v.v.. Sanh xong rồi tôi sẽ qua.
Một tuần sau tôi mất liên lạc với anh.

Ngày 20 tháng tư 75 một trung sĩ VN lái xe jeep đến nhà tôi, gõ cữa:
“Xin lỗi đây có phải là nhà của bà Lê Thị Hoa không?”.
Tôi trả lời:
“Trung sĩ ơi, ở đây không có bà Lê Thị Hoa chắc trung sĩ muốn kiếm bà Lệ Hoa phải không?”
Viên trung sĩ vội nói:
“Tôi cũng không biết chắc. Tôi làm việc cho ban an ninh phi trường và được lịnh tới đây chở cái bà có chồng Mỹ lên gặp đại tá Mỹ phụ tá tùy viên quân sự…”.

Tôi cầm lấy giấy và thấy tên tôi. Tôi vội dẫn theo hai đứa con nhỏ nhất lên phi trường TSN. Khi vào văn phòng, vị đại tá cho tôi biết là ông xã đã liên lạc với cơ quan của ông và nhờ họ giúp tôi và các con phương tiện để rời Việt Nam.

Vị đại tá nhìn xấp tài liệu nói:
“ Chồng bà yêu cầu toà đại sứ giúp đở bà và ba đứa con di tản khỏi VN lập tức. Xin bà hãy để hai đứa trẻ nầy lại đây cho cô thơ ký tôi trông chừng, còn bà thì theo xe trở lại nhà và dẫn đứa thứ ba tới đây, chúng tôi sẽ làm giấy tờ và gia đình bà sẽ ra đi nội trong ngày nay”.

Tôi ngẩn ngơ nhìn vị đại tá ngồi nghiêm chỉnh trước mặt:
“Ngài đại tá, ngài có nói chơi không? Tôi sanh ra, lớn lên, sống ba mươi lăm năm tại non nước nầy giữa cha mẹ, thân nhân, bạn bè… và bây giờ ngài cho tôi hai tiếng đồng hồ để từ bỏ tất cả… xin ngài hãy nói là ngài nói chơi, chuyện nầy không có thật..”

Nước mắt tôi ứa ra và chắc là tôi có vẻ bi thương của một con thú sắp chết nên vị đại tá rộng lượng nhìn tôi :
“Tôi biết tình cảm của bà. Thôi bà hãy dẫn con về và ngày mai trở lại. Ngày mai, bà có nghe rõ không? Chuyện đầu tiên bà thức dậy ngày mai là cùng ba con lên xe đến đây. Tôi sẽ gởi người trung sĩ nầy đến nhà bà sáng mai.”

Tôi về nhà và cả nhà bắt đầu khóc. Tôi đi lên đi xuống thang lầu, mở các hộc tủ ra rồi đóng lại, ra sân thượng nhìn chậu cúc héo queo, xuống nhà bếp ngồi lên bộ ván ngựa,vô nhà tắm rờ rờ cái lon múc nước, ra phòng khách nằm lên võng đưa kẽo kẹt… Tôi như người mộng du, làm tất cả những hành động vô nghĩa đó với tiếng khóc hụ hụ.

Ba giờ chiều tôi gọi điện thoại cho vị đại tá biết là vì tôi bị xúc động nên đã động đến cái thai. Hiện giờ tôi đang ra huyết và bác sĩ cấm không cho tôi di chuyển cho đến ba ngày sau. Dĩ nhiên vị đại tá không dám giỡn vói tánh mạng người khác nên phải đồng ý cho tôi thêm ba ngày nữa. Tôi không nghĩ là sau ba ngày đó tôi còn có đươc một giọt nước mắt nào nữa trong cuộc đời.

Ba má tôi không đi vì tôi có người anh đi tập kết: ông bà chờ sự trở lại. Anh rể tôi không đi vì là sĩ quan cộng hoà: sợ mang tội trốn lính. Chị tôi không đi vì theo chồng.

Ba đứa cháu trai theo tôi vì sợ sẽ phải bị đày đi lính. Một đứa cháu gái theo tôi vì sợ sẽ bị gả ép cho thương phế binh.
Vì thế ba ngày sau tôi mang một bụng bầu tám tháng và bảy đứa nhỏ lên phi trường. Vị đại tá nhìn tôi như nhìn con quái vật:
“Xin lỗi bà, theo giấy tờ thì tôi chỉ có quyền cho bà và ba đứa con của bà đi. Hiện tại bà có tới bảy đứa! tôi thật không thể giúp bà”

Khi người ta phải phấn đấu cho sự sống chết thì can đảm và khôn ngoan ở đâu bất chợt hiện ra. Tôi nhẹ nhàng nói:
“Tôi hiểu thưa đại tá. Tôi không trách ông. Nhưng đây là những đứa cháu tôi nuôi từ nhỏ giống như con tôi vậy. Nếu ngài không cho chúng đi thì mẹ con tôi cũng xin ở lại.”

Vị đại tá bối rối nhìn tôi. Có lẽ ông đã biết rằng rồi thì VN sẽ mất, rồi thì một làn sóng người sẽ cuồn cuộn ra đi. Sớm một vài ngày, bốn đứa trẻ nầy có thấm gì đối với số người đang rần rộ chen lấn ngoài kia. Ông thở dài, ngồi xuống ghế ký cái công văn eight months pregnant wife and seven children of US citizen need to be evacuated rồi đưa cho tôi. Chúng tôi theo dòng thác người nhớn nhác ra đi.

Tôi sẽ không kể lể dài dòng về cuộc di tản của chúng tôi tuy rằng với cái bụng bầu 8 tháng, 7 đứa nhỏ từ hai tới mười ba tuổi, không một người đàn ông bên cạnh thì chuyến hành trình nầy không phải là một cuộc du lịch nhàn hạ. Nhưng so với những khổ não, những đau thương, những thảm cảnh mà đồng bào ta gánh chịu sau nầy với các cuộc vượt biên thì thật nó chẳng thấm tháp vào đâu.

2. Hoa Kỳ.

Chúng tôi tới Camp Pendleton ngày 15 tháng 5 năm 1975. Anh đang đóng quân ở Ferndale, một tỉnh lẻ nhỏ nhắn hiền hoà chỉ có bảy ngàn dân, cách San Francisco sáu tiếng đường xe về hướng bắc. Lúc đó chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Nga Sô vẫn tồn tại nên đây là một căn cứ hải quân rất quan trọng nằm trên một ngọn đồi cao ngó ra biển. Các đài radar tối tân được đặt cùng khắp để theo dõi các tàu ngầm xâm phạm bất hợp pháp vào hải phận Mỹ và California.

Khí trời California lúc đó là 75 độ mà mọi người lạnh cóng. Đêm thứ hai tại camp, anh lái xe một lèo 16 tiếng để đến đón mẹ con tôi. Mười một giờ khuya một người lính Mỹ đến lều để dẫn tôi lên văn phòng nơi anh đang làm thủ tục.
Bạn có biết lúc đó tôi giống ai không?

Không Giống Ai Hết!

Camp Pendleton

Đây là một người đàn bà 36 tuổi, tóc hơi dính chùm lại vì cát bụi, mặt hõm vào, gò má bị nám, mặc một cái áo dài xanh bên hông chỉ gài được một nút ở dưới nách vì thai bụng quá lớn, ngoài khoác một áo bầu thùng thình màu trắng, đầu trùm cái mền xám cột thắt dưới cằm, chiều dài mền thả phấp phới sau lưng.
Le lói hơn nữa là người lính Mỹ trẻ thấy tôi run cầm cập nên cởi cái áo lính trận ra, trước mặt đầy những túi để dao găm, lựu đạn v…v và trùm lên tôi. Tôi bước vào căn lều. Bàn làm việc nằm cuối phòng và anh đang đứng cúi xuống ký giấy tờ.

Chưa bao giờ trong đời tôi lại bước những bước chân nhẹ nhàng, nặng nề, tủi hổ, hoang mang, giải thoát, run sợ như lúc đó. Đây là lúc bắt đầu cho những ngày tươi sáng với xum hợp thương yêu, với nhà lầu chọc trời, với ngựa xe rộn rả, với tương lai đại học hay là lúc chấm dứt cho dòng sông Hậu hiền hòa với hàng dừa nặng trái, lúc từ giã những hàng me xanh thân yêu Trần Quý Cáp, lúc quay lưng lại với bến Ninh Kiều đằm thắm xinh tươi, lúc quì lạy cha mẹ quê hương nói lời vĩnh biệt?

Tiếng bước chân tôi làm anh quay lại. Anh bước tới ôm lấy tôi. Tôi cố gắng để khỏi ngất đi, quì xuống sàn nhà, tay ôm lấy mặt và nghẹn ngào: “Oh My God honey, I lost my family, I lost my country, I lost everything!”

rồi tôi khóc nức nở. Anh quì xuống ôm đầu tôi. Anh cũng khóc. Tất cả người Mỹ trong phòng đều rưng rưng.

Ngày 13 tháng 6 năm 1975 tôi sanh cháu Jimmy. Tháng 9 tựu trường, tôi gởi hai đứa nhỏ nhất cho cô bạn,đi làm phụ giáo lớp một trường tiểu học Ferndale, hai đô la rưởi một giờ.
Hè 1976, tôi đứng bán hot dog trong hội chợ và ba thằng lớn thì đi dọn rửa phân ngựa trong trường đua. Lúc đó chánh phủ Mỹ còn giàu nên cứ hai năm là các quân nhân được dổi tới một trạm binh khác. Tôi thấy tụi nhỏ rất buồn và sợ rằng sự dời chỗ thường xuyên sẽ làm tụi nó hụt hẫng vì xa bạn nên khuyên anh giải ngũ. Và chúng tôi dọn xuống miền nam California, tỉnh La Habra.

Tôi thì để tất cả sự nghiệp lại ViệtNam, anh thì trước khi biến cố ViệtNam xảy ra, đã bị thua lỗ tất cả vốn liếng trong một vụ hùn hạp mở tiệm in với một nhóm dân sự nên chúng tôi hoàn toàn… sạch sẽ. Khi đi mướn nhà ở đường Dexford, La Habra, chúng tôi chỉ dẫn theo bốn dứa nhỏ nhất, hai trai hai gái. Chủ nhà là một người đàn ông Mỹ dễ thương, khi biết anh vừa giải ngủ thì rất vui vẻ nói:
“Ô, căn nhà nầy có ba phòng lớn, thật là lý tưởng cho gia đình ông bà với hai trai hai gái. Tôi rất vui lòng cho ông bà mướn”.

Chúng tôi dở khóc dở cười. Anh là người ít nói và chậm chạp nên tôi bèn duyên dáng cười cười nhìn ông:
“ Thưa ông, nếu tôi nói với ông là chúng tôi có tám đứa con thì ông có tin chúng tôi không?”
Lần nầy thì chủ nhà nhìn chúng tôi dở khóc dở cười. Ông ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
“Thôi được, tôi đồng ý cho ông bà mướn. Mỗi tháng tôi sẽ đích thân đến thâu tiền nhà. Hy vọng là mọi sự sẽ tốt đẹp”.

Ông đâu có biết rằng tên tôi là Lệ Hoa nghiã là một bông hoa mỹ lệ, đẹp đẽ chớ chẳng phài là nước mắt của hoa nghe bạn. Vì thế tôi thích trồng bông, thích vườn tược.
Tôi sanh ra và lớn lên ở Cần Thơ, bà con sống ở Ô Môn, Thới Lai , Phong Điền, Cờ Đỏ nên mỗi mùa hè chị em tôi thường về vườn đi cầu khỉ, chèo ghe, bắt ốc gạo, hái vú sữa. Cái chất vườn nam bộ đã ăn sâu vào máu tôi nên hiện giờ nhiều người còn cho rằng tôi không có vẻ gì là văn minh như người ViệtNam sống ở Mỹ. Biết sao!

Sau khi dọn vô, tôi và các con hì hục cuốc đất, đổ phân và biến cái sân trống rỗng của ông thành ra một cái vườn đầy hoa vạn thọ (đây là để honor má tôi vì bà rất thích bông vạn thọ). Tháng sau khi ông tới thu tiền nhà thì ông ngẫn ngơ và phán một câu “Tôi không cần phải tới tận nhà thâu tiền nữa, bà cứ viết check gởi cho tôi là được. Cám ơn bà về những bông vạn thọ.”

Một vài người quen xúi tôi xin đi làm waitress vì nghề nầy tiền lương chẳng bao nhiêu nhưng tiền tip thì …ăn chết không hết. Trời ơi tôi nghĩ tới cái viễn cảnh , anh sẽ đi làm, tôi sẽ đi làm lại còn tiền hưu trí từ quân đội nữa thì quả nhiên là… ăn chết không hết! Tôi vội vàng vác đơn tới tiệm Red Lobster gần nhà xin việc. Người manager hỏi bà có làm waitress bao giờ chưa? Dạ chưa. Bà có khi nào làm chủ nhà hàng chưa? Dạ chưa. Cứ bà có bà có bà có…, dạ chưa dạ chưa dạ chưa… và thế là tiền ăn chết không hết chỉ là mộng ảo.

Tôi mua tờ báo thấy rao là
“Chương trình CETA của chánh phủ sẽ trả tiền trường cho một năm học để giúp bạn học các nghề văn phòng như thơ ký, kế toán, phụ tá hành chánh v.v… Mỗi tuần chương trình sẽ tặng bạn bốn chục đô để di chuyển và sau khi tốt nghiệp sẽ kiếm việc làm cho bạn…”.

Tôi nói với anh đây chắc hẳn là một sự lường gạt vì làm gì lại có sự tốt đẹp như thế. Anh thì lớn lên đã nhập ngũ, phần nhiều thời gian nếu không lang thang trên biển cả thì cũng đóng quân ở một xứ khác ngoài Mỹ nên đối với xã hội dân sự cũng có chút bỡ ngỡ. Tôi hăng hái tới cơ quan xin vào chương trình thơ ký. Người phụ trách chương trình thấy tôi là người tị nạn, chồng lại là cựu quân nhân, hình dạng có vẻ nghèo nên thương tôi. Sau khi nói chuyện và đọc cho tôi viết một đoạn anh văn , bà nhận tôi vào chương trình thơ ký. Khi tôi lui cui làm giấy tờ, bà dịu dàng hỏi:
“Bà có giỏi toán không? Làm nhân viên kế toán thì nhiều lương hơn thơ ký thường và rất dễ kiếm việc làm.”
Tôi không dám trả lời vì không biết “toán” của bà thuộc về loại gì nên ngập ngừng:
“Dạ tôi cũng không biết chắc.”
Bà lấy ra một bài thi toán đưa cho tôi. Ái dà, bà ơi. Có phải là bà đang chà đạp cái trường Gia Long của tôi không? Tôi là học sinh đệ nhất A đây nha bà, dù tôi không được như bà Dương Nguyệt Ánh ngày nay phát minh ra cái gì là bom tìm nhiệt thì ba cái 25% của 100 là bao nhiêu, 1/3 của 75 có lớn hơn 2/3 của 40 không v.v.. là cái chuyện nhắm mắt cũng trả lời được.

Một năm sau tôi được giới thiệu vào làm cho công ty nhà hàng Dennys, bộ phận kế toán xuất nhập.
Làm việc bảy năm tại Dennys tôi đã học được biết bao điều về gia đình, xã hội, dân tình Mỹ. Trong những buổi ăn trưa tôi học đan áo, học móc khăn, học cách nấu món ăn Mỹ, Ý, Tây Ban Nha, học cách dạy con, cách đối xử với chồng, học cách không bao bạn ăn để rồi kể lể khi giận hờn nhau, mà mạnh ai nấy móc túi trả phần mình và tình bạn thì không bao giờ sứt mẻ.

Những người bạn ngoại quốc mới nầy giúp tôi hoàn thiện ngôn ngữ, hiểu rõ những tiếng lóng, sử dụng thành thục những thành ngữ, trả lời điện thoại một cách chuyên nghiệp.
Giúp tôi biết nói cám ơn với con cái.
Biết dằn lòng không mở thư của chúng ra kiểm soát.
Biết chỉ dẫn chúng tự thực nghiệm cuộc đời hơn là bao che lầm lỗi.
Biết nói xin lỗi khi phạm phải sai trái.
Biết văn minh không phải là mặc áo hở ngực hở mông mà là tuân thủ theo hiến pháp.
Biết tự do không phải là mạnh ai nấy làm mà là kính trọng nhân vị của chính mình và của đồng loại.
Biết thành công là nhờ vào sự mẫn cán, học hỏi, cầu tiến chớ không nhờ vào nịnh bợ lấy lòng.
Biết các sắc dân khác cũng đầy thương yêu và nhiều đau khổ.
Biết kính trọng người Mỹ đen. Biết thương yêu người Mễ nghèo.

Họ cười lăn lóc với cái accent Á đông của tôi nhưng họ không chê tôi dốt nát. Họ chỉnh sửa lại những tiếng tôi dùng sai trật nhưng không có ý khinh khi. Họ không đánh giá tôi cao vì tôi đến từ gia đình trưởng giả như tôi khoe khoang. Họ không nhìn tôi thấp kém vì tôi thuộc third world country như báo chí thường đăng tải. Họ nhìn tôi giống như họ, một người vợ, một người mẹ đang cố gắng kiếm tiền một cách lương thiện để giúp chồng nuôi dạy đàn con.

Chín muơi phần trăm nhân viên kế toán là đàn bà. Đây là những bà mẹ, bà vợ ban ngày làm toàn thời gian, chiều về nấu ăn chăm lo con cái, cuối tuần giặt giũ, lau chùi nhà cửa, dạy con làm bài tập, đi chợ, đi chơi với gia đình. Họ sống bình thường mà còn giỏi hơn tôi là đằng khác.

Vậy mà khi xưa tôi cứ nghĩ đàn bà Mỹ là đồ bỏ. Tôi mang tội khinh người. Khi ở ViệtNam tôi ít khi nào giặt quần áo cho tôi, cho chồng, cho con. Tôi chưa khi nào lau chùi cầu tiêu, thức khuya dậy sớm cho con bú, kiểm soát từng bài văn điểm toán cho con. Tất cả đều có anh tài xế, chị vú, anh bồi, chị bếp, cô giáo dạy kèm. Biết bao người đã than trời trách đất rằng sống ở đây sao mà cực quá, xã hội gì mà sướng đâu không thấy chỉ thấy cái gì cũng tự mình làm, thời gian hưởng thụ chẳng bao nhiêu mà làm việc thì quay tròn như chong chóng chẳng lúc nào ngừng. Cực ơi là cực. Chỉ chăm chăm muốn về ViệtNam hưởng thụ.

Bạn ơi, bạn hãy dừng chân một bước. Bạn hãy mỉm cười cầm từng món đồ dơ bỏ vào máy giặt, nhìn vết bẩn trên chỗ đầu gối và hình dung lại gương mặt mếu máo đáng yêu của con nhỏ khi té quị xuống bải cỏ, nhớ lại ánh mắt chờ mong tin tưởng của con khi mẹ đến đỡ lên. Bạn hãy nhìn cả nhà húp xột xoạt chén canh bầu, cùng chia nhau miếng sườn nướng, cuộn chả giò. Bạn hãy cúi xuống đứa bé đang nở nụ cười ngây thơ chờ mong bình sữa bạn đang đu đưa trước mặt. Bạn hãy vừa xào món tàu hủ vừa trả lời thằng con đang cắm cúi làm bài tập bên kia bàn là Los Angeles không phải là thủ phủ của California con ơi. Thủ phủ của CA là Sacramento hoặc square of three is not three, its nine. Và năm phút sau đứa con vui vẻ đứng dậy: “Thank you mom ( or dad). My home work is done”.

Đây mới chính là lúc bạn sống, là lúc mà bạn xuyên thủng qua lớp giáp để linh hồn và huyết nhục bạn và gia đình cùng hoà quyện vào nhau. Đây chính là lúc hột mè trí tuệ nảy nở trong các con do bạn gieo xuống, lúc hạt giống tình yêu thẩm thấu vào linh hồn chúng do bạn cày cấy vào. Chúng sẽ lớn lên với ân cần bạn gởi vào chén cơm, với giúp đỡ bạn xẻ chia trong bài tập, với thương yêu bạn vuốt thẳng áo quần, với mồ hôi bạn chảy dài trong trận đấu.Và vợ chồng bạn có cùng một trận tuyến, cùng một hướng nhìn.

Trong suốt mấy chục năm sống trên đất Mỹ tôi thỉnh thoảng bị kỳ thị chung bởi những người lạ vì tôi là người Á đông nhưng chính bản thân tôi, tôi chưa hề gặp sự kỳ thị nào có lẽ vì tôi đã sớm hoà nhập vào xã hội nầy, tôi quên bỏ cái ý tưởng tự cao, nhìn cái gì của người cũng cho là không bằng ViệtNam. Đàn ông, đàn bà, ấm thực, ngôn ngữ, văn hoá, phong tục, đối xử, giáo dục, gia đình… cái gì Mỹ cũng thua ViệtNam hết, đừng cho con cái giao thiệp thân mật với trẻ con Mỹ mà bị hư, không dạy được!

Tôi thì nghĩ là không có khu vườn nào hoàn toàn, không có ít nhiều cỏ dại. Tôi thành thật học hỏi, công bình so sánh, loại bỏ điều xấu, áp dụng điều tốt và biết ơn những bài học mới mẻ, những đối xử nhân đạo, những giúp đỡ trân quí mà tôi và gia đình đã hưởng nhận. Và khi quì trước mặt đấng tối cao, lòng tôi thanh thản khi tự biết mình là một người biết ơn và trả ơn với tất cả trái tim.

Tôi đã từ bỏ quê hương điêu tàn, đã quay lưng với tương lai đen tối. Tôi đã chọn một nơi khác để cất nhà, một miếng đất khác để gieo hạt. Tôi đã dùng nước sông của họ để tưới tẩm, dùng đồi núi của họ để chăn nuôi. Tôi đã dùng chất xám của họ để tiến thân, dùng lòng tốt của họ để sống còn.

Tôi không bao giờ quên dòng máu Việt trong tôi nhưng tôi sẽ không ngồi đó nhìn non nước nầy, dân tộc nầy với một ánh mắt hờ hững, dửng dưng, một thái độ vô ơn, rẻ rúng. Tôi sẽ không coi đây chỉ là một mảnh đất tạm dung và ngồi khóc thương cho một khung trời đã mất, mơ tưởng về một dĩ vãng đã tàn phai. Tôi sẽ hòa vào các chủng tộc khác nhau, rơi lệ khi thấy tòa nhà chọc trời sụp đổ, đau thương khi nhìn xác lính được chở về, hân hoan khi nghe bài quốc ca trong các cuộc tranh tài. Tôi sẽ dạy các con cùng tôi nhận nơi nầy làm quê hương, sẽ đem tất cả khả năng lao động hay học vấn đóng góp vào sự thịnh vượng chung của quốc gia nầy.

Thay vì trồng cây cổ thụ tạm thời trong một cái chậu nhỏ để nó chỉ được lớn èo uột trong bóng râm, tôi và gia đình muốn đào một hố sâu, đổ đầy phân bón, tưới tẩm nó với tất cả ân cần, săn sóc nó với tất cả sức lực để cho rễ mạnh nó ăn sâu vào lòng đất, cho tàn xanh nó tỏa rộng khắp không gian.

Chúng tôi không tạm dung. Chúng tôi mọc rễ và yêu thương quê hương nầy. Rồi một ngày nào đó, ở bên kia góc trời có cần tới một bóng mát bình an, chúng tôi sẽ chiết bớt một nhánh cổ thụ đem về…
Chúng tôi chỉ có thể làm như thế khi chúng tôi nhận nơi nầy làm quê hương.

Lệ Hoa Wilson

Nguồn: Việt Báo ( Cali.) via maiyeuem.net

Đôi giòng:

Ở nhiều nơi trên thế giới ngày nay việc con cái gửi bố mẹ vào nhà dưỡng lão đã thành phổ biến.  Những nhà dưỡng lão tư nhân thường được biết đến như những nơi mà các cụ được chăm sóc cẩn thận ( có trả tiền thì tự nhiên dịch vụ thường tốt hơn là ở những nhà dưỡng lão ‘xã hội’), nhưng cụ già như trong clip theo đường dẫn kèm đây, được con cháu gởi vào một nhà dưỡng lão ‘năm sao’ ở Mỹ đã được chăm sóc một cách đáng sợ!

Nhân đây lại nghĩ tới nhiều bạn cùng lớp/cấp lớp thời trung học ở Sài Gòn xưa đã tận tụy chăm sóc bố mẹ già, yếu trong nhiều năm ở Bắc Mỹ.  Chợt thấy lòng xốn xang, những giòng nước mắt lăn trên má: thế hệ những người con thương yêu cha mẹ, tận tụy chăm sóc cha mẹ già yếu trong môi trường sống ‘khắc nghiệt’ kiều mới ở Bắc Mỹ như các bạn cùng lớp năm nào xem chừng là thế hệ…cuối cùng trên vùng đất này?!

 

Tình cảnh người già ở một viện dưỡng lão loại năm sao ở Mỹ

Phê phán chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam hiện nay

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 489 other followers