Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Lời cám ơn

Hân hạnh chào đón bạn đọc,

Chân thành cám ơn các tác giả đã cho phép chúng tôi sử dụng bài viết, thơ, truyện, nhạc, tranh vẽ, ảnh chụp,…trên Blog này;

Chân thành cám ơn trước những tác giả mà chúng tôi chưa liên lạc, nhưng đã mạn phép* quý vị đưa bài, hình ảnh, tranh vẽ, ảnh chụp,…giới thiệu đến bạn đọc;

Mến chúc quý vị và quý bạn sức khoẻ, bình an,

Trân trọng,

SANYO DIGITAL CAMERA

Sầu Đông  Nguyễn Thọ Chấn

* Trong trường hợp quý vị có những điều cần lưu ý, xin vui lòng cho biết qua điện thư. Chân thành cảm ơn quý vị.

Chuyện anh Bốn Thôi và chị Phạm Thị Lành

Lưu Văn Vịnh

MỘT DỰ TÍNH TRIẾT HỌC MUỘN MÀNG  !

 Mất gần 40 năm, 1951-1991, TĐThảo mới nhìn ra hết những sai trái của Marx và Hegel, như trong hang tối của Platon, ông bị sở tri chướng (Phật) đè nặng, trở thành u mê, như chính lời ông bố mắng : mày học làm thợ còn hơn,  mày học nhiều quá nên trở thành kẻ không tưởng, kẻ sống trong mộng ảo…(tr.160} chúng nó đã xúi mày đi vào chỗ chết…

Chính ông về sau cũng nhìn nhận : Kẻ đi tìm chân lý như tôi nay cũng chỉ là một thằng hề! ha ha ha…Người Pháp gọi là fou rire, cười như điên rồ…mang tiếng kẻ có học mà cứ phải đi theo đuôi mấy ông cán bộ i tờ (TĐThảo-Những Lời Trăng Trối-tr.326 )- Bố mẹ nuôi nấng, cho sang Tây ăn học, nay trở thành thằng khùng trong xã hội…

Năm 1987 TĐ Thảo vào SàiGòn, hào hứng viết Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người ( xb và tái bản ở Sài Gòn 1988), nhằm chống lại Althusser, một ông Mácxít khác ( ông này cũng điên, từng giết vợ !), đây là giai đoạn bứt phá, kiểm điểm lại những sai lầm cơ bản đã mắc vào thời trên tháp ngà non nớt, vọng niệm và vọng động. Ông biết chắc : Marx sai từ cơ bản, không phải người thực hành sai, Marx đã lật ngược lại duy tâm Hegel, nhưng chính Hégel biện chứng cũng sai nốt, sai về phương pháp ( tr.415) , Hegel nói chuyện trên Trời thì không đến nỗi tai hại quá, nhưng Marx lại đưa cái dialectique ấy từ trên trời xuống đất, đặt cái tương lai lên trước cái hiện tại…để bảo rằng sau này sẽ tiến tới chủ nghĩa CS(Trăng Trối-tr421)-với lối biện luận siêu hình mơ tưởng, Marx tiên tri sai trật lịch sử.

Không dùng tới Mác xít và Hegel, TĐThảo những ngày cuối đời toan xây dựng một triết thuyết hoàn toàn mới, ông muốn khai thông bế tắc tư tưởng, một món nợ phảitrả cho dân tộc, cho triết học, ông dự định từ 1991, xây dựng một lâu đài tư tưởng,một cuộc cách mạng mà cả nhân loại mong chờ, lo tìm hạnh phúc đích thật cho toàn thể nhân loại…Cuộc sống gian khổ của dân ta và của tôi đã chuẩn bị vật liệu để tôi xây cất ngôi lâu đài ấy…lâu đài của tinh thần và lý tưởng dân chủ, của một nền công bằng xã hội chân chính…công lý nghiêm minh…khai triển một cuộc cách mạng lý tưởng bằng lương tri, trí tuệ…quyền dân chủ bằng lá phiếu của mình…(Trăng Trối-tr.339-40) xây dựng trước hết bằng một cuốn sách, ông cần ít nhất vài tháng hay một năm để viết, nhưng, khốn thay, ông đã lìa đời sau lần nói chuyện đó có 2 tuần !

BÀN THÊM :

- Phải có CĂN ác mới theo hướng hắc đạo -mê tín cuồng tín được

-Người còn Phật tính, thì chỉ bị Ma nhập một thời gian, như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường…30 năm, sau Thức Tỉnh và Thoát.

-Phật địa miền Nam, đất lành, Ma Vưong nhập ngắn hạn-1975-1985- thì đã được Glasnost cởi trói. Còn xứ Bắc văn hoá Chửi Gà, tất dẫn tới Tố khổ chửi rủa đánh giết lẫn nhau,  Ác Căn nặng nhất ở miền đất Chàm cũ, Ma Hời ám không buông.

-Muốn chuyển Nghiệp, nhổ Căn, cần Tu Phật, khởi đầu bằng TỊNH KHẨU.

Đôi giòng:

Đọc hồi ký của Hoàng Long Hải ta không thấy nỗi oán hận, mà thấy cái giọng bình thản, có chút vẻ diễu nhại của một người có trách nhiệm về an ninh ở một vùng mà từ quan chí dân…’phè cánh nhạn’, và người có chút trách nhiệm tại điạ phương như tác giả thì gặp mấy quan lớn bên trên thuộc loại “khỏi-cần-đánh-chúng-hắn-cũng-phải-thua!”

Ông Thầy Thuốc Bắc phủ Cây Tùng

1Kinh Rạch Giá – Hà Tiên được coi như một con đường thẳng từ xã Mỹ Lâm tới xã Ba Hòn. Chỉ ở đoạn quá kinh Xà Tón (Còn gọi là Kinh 1) khoảng một cây số thì kinh nầy cong về bên trái một chút, cỡ 30 độ. Tỉnh lộ chạy theo con kinh nầy cũng uốn cong như vậy.Tại chỗ cong nầy, đi theo hướng về Hà Tiên, bên trái khách bộ hành là khu “rừng cấm”, bên phải, bên kia kinh là xóm Đạo.“Rừng cấm” là tên trong địa bộ. Hồi Tây còn cai trị, chúng nó khoanh vùng nầy để làm ruộng như ở Nam Thái Sơn, Tà Keo vậy. Tuy nhiên, sau khi đào được vài con kinh nhỏ, thì Tây mẫu quốc đầu hàng Đức nên chương trình làm ruộng nầy thất bại. Gọi là rừng nhưng chỉ toàn sậy, đế, ô-rô, cóc kèn… kinh đào chưa nhiều, chưa thông với kinh lớn nên còn nhiều phèn, chưa thể làm ruộng được. Sau trận đánh năm 1972, dân Quảng Trị bỏ xứ chạy loạn, trốn Việt Cộng, ông bác sĩ Phan Quang Đán, phó thủ tướng đặc trách chương trình “Khẩn hoang lập ấp”, dự tính đưa đám dân chạy loạn nầy về đây. Công việc không còn bị nhóm “Nam Kỳ Quốc” phản đối như hồi 1965. Công việc mới chuẩn bị, chưa kịp làm gì thì bỗng “đứt phim”.

Hồi trước, khoảng năm 1965, khi hàng rào điện tử McNamara được dựng dọc theo bờ Nam vĩ tuyến 17, vùng nầy bị bạch hóa, dân chúng bị đuổi đi. Hồi ấy, phủ Quốc Vụ Khanh Vũ Quốc Thúc, đặc trách phát triển kinh tế hậu chiến, dự trù đưa dân vùng bị bạch hóa gồm các quận Trung Lương và Gio Linh vào định cư ở Miền Tây Nam Phần nhưng bị nhóm “Nam Kỳ Quốc” phản đối. Họ chủ trương “đất miền Nam của người miền Nam”, bây giờ còn bỏ hoang nhưng sau có đất cho con cháu cấy cày. Vì không đưa vào miền Tây Nam phần được, số dân nầy một phần định cư ở Cam Lộ, ở Bình Giả và một ít ở Suối Dầu (Nha Trang).

Sau hiệp định Paris 1973, dân chúng, phần đông là người ở Long Xuyên hoặc dân di cư Xóm Mới (Gò Vấp) cũng về đây làm ruộng, cũng chỉ mới chuẩn bị thì họ đành phải bỏ mà về, cũng như việc trồng chuối xuất cảng sang Nhựt, được Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp tài trợ. Việc nầy, trong bài tới sẽ kể cho độc giả nghe, còn bây giờ là chuyện “Ông Thầy Thuốc Bắc ở phủ Cây Tùng” tức là phủ Phó Tổng Thống của cụ Trần Văn Hương.

Ở đoạn đường cong, bên kia kinh, là “xóm Đạo”. Đây không phải là nơi “Giặc về qua xóm đạo” của nhà thơ Hà Huy Hà, phổ thành bài hát “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”. Đây cũng không phải là các xóm đạo Thiên Chúa trong một làng nhiều người lương như ở ngoài Trung, ngoài Bắc. Ngoài đó, người theo đạo Thiên Chúa thường ở chung với nhau thành xóm, thành làng nên những nơi ấy thường được gọi là “Làng đạo” hay “Xóm đạo”.

Ở Gò Công, trước khi vào thị xã, cũng có một “Xóm Đạo” nhưng đó là xóm đạo Cao Đài. Thời chiến tranh Việt Pháp, Việt Cộng thường đem mã tấu, súng đạn tới “giải phóng” những người theo đạo Cao Đài, mà chúng nó gọi là Việt Gian, nên dân Cao Đài cũng chạy loạn, tập trung về đó ở với nhau, bảo vệ nhau chống Việt Cộng, nên mới có tên là “xóm Đạo”.

Còn như “xóm Đạo” bên kia kinh Rạch Giá – Hà Tiên tôi nói ở đây thì lại khác xa, dân nầy không đỏ thì cũng hồng hồng, hoặc trốn quân dịch, không chịu đi lính Quốc Gia.

Xóm nầy nhà ở chi chít, sát vách nhau giống như xóm lao động ở Saigon, nhà tranh, vách lá, vài nhà lợp tôn. Hầu hết là nhà nhỏ như ở miền quê Nam bộ. Nhà nầy qua nhà kia thì cứ len theo vách mà đi, còn như xa hơn thì dùng xuồng. Mùa nước nổi, mỗi nhà là một ốc đảo. Họ có một cái chùa, thờ Phật và thánh thần gì đó, hơi lung tung. Theo tôi hỏi dân chúng thì gốc gác của họ là từ bên Châu Đốc, theo phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Đó là một đạo mới ở miền Tây, nên người ta mới gọi là “xóm Đạo”.

Xóm nầy mất an ninh trăm phần trăm. Người của chính quyền Quốc Gia, lính tráng không tới nơi nầy, nhứt là sau vụ một nghĩa quân bị đâm chết trước sân chùa. Nói cho văn hoa một chút thì “Máu đổ trước Thiền môn”.

Tôi nói với ông quận trưởng Sầm Long, khi ông mới về  nhậm chức, tình hình như thế nầy là không được, không thể kéo dài, phải tìm cách chấm dứt. Dân chúng trong địa phương mình mà mình không kiểm soát được là thiếu trách nhiệm. Ở đây, nếu dân chúng muốn tiếp tế cho Việt Cộng trong bưng thì quá dễ. Ngày ngày, họ đi giăng câu, bắt cá, làm ruộng, tự do thoải mái mang đồ tiếp tế mà đi, đâu có ai ngăn chận, bắt giữ.

Sau vụ anh nghĩa quân bị giết, một hôm họp Phụng Hoàng xong, tôi lại nói với ông quận trưởng: “Mình phải dời xóm đạo nầy qua bên nầy lộ mới kiểm soát họ được.” Quận trưởng hỏi: “Làm sao mà dời?” Tôi nói: “Đốt cái xóm nầy đi!” Quận trưởng trợn mắt hỏi tôi: “Làm sao đốt xóm người ta được?” Tôi cười: “Cứ giả dạng Việt Cộng, Quốc Gia đụng trận trong xóm, rồi cho đốt luôn. Xong, không cho họ làm nhà lại, buộc qua ở bên nầy lộ. Ai qua thì mới được bồi thường chiến tranh!” Quận trưởng nói: “Thôi! Ghê quá ông ơi! Ông với tôi vác chiếu ra hầu toà án quân sự mặt trận như không! Việc thì hay nhưng tới đó, chắc không ai bênh vực mình đâu. Ở tù lãng nhách. Ngán nhứt là mấy thằng cha đi kiếm phiếu.” Ý ông quận muốn nói mấy ông dân biểu đối lập, thân Cộng, mấy ông nghị viên, nghị hòn, thấy những việc như thế nầy, sẽ quậy tùm lum lên để kiếm phiếu. Sau đó, quận trưởng nói với thiếu úy Kiệt: “Sư phụ ông là tay bá đạo! Mấy tay trọ trẹ nầy ghê lắm!”

Ông quận trưởng xuất thân khóa 12 Thủ Đức. Tôi, so với ông thì ông không những “khóa đàn anh”, mà là “khóa ông nội, cố nội”. Tôi nói đùa với thiếu úy Kiệt như thế. Nhưng ông cũng là người biết mình biết ta. Hôm ông ta với ông quận Phúc bàn giao xong, hai người qua thăm tôi. Ông quận Long nói một câu tiếng Tây với tôi, hình như để ngầm chứng tỏ ông là người có trình độ học vấn. Có lẽ ông ta nghe ông quận Phúc giới thiệu trước, gốc tôi là người miền trung, giáo sư trung học đệ nhị cấp, vì đời lính mà lưu lạc vô tới đây. Do đó, giữa ông và tôi bao giờ cũng có sự tương kính, hợp tác với nhau. Khổ một nỗi cho ông, ông thường bị tỉnh trưởng vòi tiền, đóng hụi chết, không ít lần ông than với tôi như vậy!

Một hôm, tôi cầm một bản tin Phụng Hoàng qua gặp ông quận Long. Số là tôi hay ngồi lật “Hồ sơ trận liệt” cũ để xem lại tình hình. Tôi chợt tìm ra một bản tin của Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Châu Đốc, gởi cho Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Kiên Giang, thông báo cho Ủy Ban Phụng Hoàng quận của tôi, cho biết rằng… tôi nhớ đại khái:

“Bí thư huyện ủy Tri tôn – tỉnh Châu Đốc – bí danh là ông “Đạo Sáu”, trước khi có chương trình Ấp Chiến Lược, là người đứng đầu “xóm Đạo” – lúc ấy đã có tên xóm Đạo – ở tại một cái “kinh cùng” – có nghĩa là một cái kinh “dead end” – như tiếng Mỹ vậy, nằm giữa ranh giới hai tỉnh Châu Đốc và Kiên Giang. Khi chương trình Ấp Chiến Lược thi hành hồi Đệ Nhứt Cộng Hòa, “xóm Đạo” nầy ở vào vùng khó kiểm soát nên buộc dân chúng phải dời về gần quận lỵ Tri Tôn, tỉnh Châu Đốc.

Thay vì làm theo lệnh chính quyền, ông Đạo Sáu kéo dân dời xuôi về tỉnh Kiên Giang, dựng lại “xóm Đạo” ở bên kia kinh.

Vậy mà mấy năm nay, nhận được bản tin nầy xong, Ủy Ban Phụng Hoàng quận tôi đem bỏ hộc tủ, chẳng khai thác, theo dõi gì cả. Tôi than phiền với ông quận Long như vậy. Quận Long nói: “Ông rán lên mà xem lại cho xong. Cần thì mình bàn lại.”  Trước khi bắt tay ra về, tôi lại nói với quận Long: “Đốt mẹ nó đi là xong!” Quận Long chỉ cười, không nói gì. Trên đường về, tôi lái xe, thiếu úy Kiệt ngồi bên cạnh, tôi nói: “Cha nội quận trưởng nầy đánh giặc thì gan lì, nổi tiếng một cây. Tới việc nầy (Việc đốt xóm Đạo như tôi chủ trương) thì chả nhát gan hơn mình.”

Bất đồ, mấy hôm sau, ông Chủ Chùa Phạm Bình An đến văn phòng tôi xin thành lập Hợp Tác Xã Nộng Nghiệp cho “xóm Đạo” nầy.

Bấy giờ, ông Đạo Sáu không còn ở “xóm Đạo” nữa. Ông ta đi đâu? Không ai biết. Ông giao “xóm Đạo” lại cho ông Chủ Chùa – có nghĩa là người coi sóc ngôi chùa của “xóm Đạo” tên là Phạm Bình An.

Đọc xong đơn xin thành lập hợp tác xã nông nghiệp của ông Chủ Chùa Phạm Bình An, tôi nói với thượng sĩ Hai Râu, trưởng ban tư pháp, mời ông Phạm Bình An lên cho tôi gặp.

Hôm sau, mới tới văn phòng một chốc, thì thượng sĩ Hai Râu gặp tôi nói cho biết ông Chủ Chùa đang chờ. Tôi mời ông ta vào văn phòng. Thay vì để ông ngồi vào cái ghế trước bàn làm việc, tôi mời ông ta ra salon ngồi nói chuyện. Tôi sai lính pha trà, rồi ra tiệm gọi vô hai ly “xí nại” – Ông ta là người tu hành, không uống rượu như dân miền Tây – Tôi nói chuyện với ông rất lâu, ngoài chuyện tôi khuyến khích ông nên mở rộng hợp tác xã để giúp ích cho dân chúng, hỏi thăm việc làm ruộng trước nay như thế nào, và cuối cùng… hỏi thăm ông “Đạo Sáu”.

Tất cả những chuyện tôi nói ở phần trước, chỉ là đưa đẩy, chuyện chính là điều tra xem ông Đạo Sáu hiện đang ở đâu?

Người nhà quê Việt Nam rất thiệt thà. Thấy tôi là người có chức quyền, tiếp đón ông rất nhiệt tình, hòa nhã, vui vẻ nên ông rất thành thật khi tôi hỏi thăm mọi chuyện.

Theo lời ông thì mấy năm nay ông Đạo Sáu đã lên ở hẳn trên Saigon, không đi về như trước kia. Hiện giờ (lúc ấy – 1973), ông Đạo Sáu hiện đang ở tại dinh Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, phủ Cây Tùng, để chữa bệnh cho một người cháu gái của phó tổng thống, tên là Phan Lan Hương, gọi bằng cậu. Sợ ông ta từ chối, tôi vui vẻ khuyến khích ông ký tên vào tờ khai vì trong khi tôi nói chuyện thì thượng sĩ Hai Râu ghi và đánh máy ngay tờ khai như tôi dặn trước. Ông Chủ Chùa thật thà, bị tôi “gài” mà không hay, ký ngay vào tờ khai rằng hiện ông Đạo Sáu đang ở Saigon. Cũng qua đó, tôi đoán rằng tay Đạo Sáu nầy cũng “bí mật” ghê lắm. Vì vậy, ông Chủ Chùa không biết ông Đạo Sáu là Việt Cộng nằm vùng.

Ngoài việc trả lời những gì tôi hỏi, ông Chủ Chùa Phạm Bình An còn tặng tôi một cái máy Kolher 2 piston, máy tuy cũ nhưng gắn vào ghe “tắc ráng” thì chạy nhanh không ai bằng.

Ngay hôm đó, tôi làm một bản tin điện, gởi cho Uy Ban Phụng Hoàng tỉnh Kiên Giang, thông báo Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Châu Đốc về tình trạng ông Đạo Sáu hiện giờ.

Mười ngày sau, tôi có công điện gọi về Rạch Giá trình diện, đem theo hồ sơ vụ ông Đạo Sáu.

Nhiệt tâm của tôi chỉ đem lại cho tôi những chuyện bực mình và… tốn tiền.

Sau khi được bản tin của tôi, Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Kiên Giang liền sao gởi lên Ủy Ban Phụng Hoàng Trung Ương. Trung ương liền sai một trung tá làm trưởng đoàn, đi Kiên Giang điều tra vụ nầy. Thay vì về tới địa phương để điều tra, tìm hiểu thì mấy chả chỉ về tới Rạch Giá rồi ở lại đó, đi về miệt ruộng mấy chả lạnh giò, đánh điện gọi tôi ra “trình diện”, có nghĩa là tôi đem cái mặt tôi ra mà trình cho mấy chả xem. Không những thế, thái độ của mấy chả là hạch sách, làm như mấy chả ở trung ương, loon to chức lớn mới tài giỏi, còn như bọn tôi là dân ở ruộng, dốt nát, quê mùa, không biết gì, sao dám làm một bản tin đụng tới phó tổng thống.

Sau khi tôi trình bày sự việc, từ đầu chí cuối, rõ ràng, có chứng minh bằng giấy tờ, mấy chả làm thinh. Thế rồi bèn yêu cầu tôi dẫn… đi ăn trưa. Không lý cho mấy chả vào quán ăn bình dân, nên phải dẫn ra nhà hàng, tốn hai chục ngàn, gần nửa tháng lương. Tháng nầy vợ con lấy gì ăn? Việc nầy, bên Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Kiên Giang, chính yếu là bên phía Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát, sợ tốn kém, bèn đẩy “cục nợ” sang cho tôi gánh bớt.

Từ Rạch Giá về, đi uống càphê với quận Long và thiếu úy Kiệt, tôi chưởi thề không ngớt cái phái đoàn trung ương mắc dịch nầy về việc làm biếng, nhát gan, hách dịch, coi rẻ bọn làm việc miệt ruộng như chúng tôi. Thiếu úy Kiệt thì không nói gì, quận Long chỉ ngồi cười. Cuối cùng, ông ta nói: “Ở lính lâu, tôi biết cái trò nầy hơn ông. Bọn nó quen biết lớn, về trung ương ngồi để giữ chữ thọ chớ tài cán chi. Thấy ông nhỏ loon hơn chúng nó, chúng nó “lấy loon đè người” chớ học hành như tụi nó cũng chỉ đáng học trò ông.” Nghe quận Long xoa dịu tự ái, tôi cũng bớt bực mình.

Vậy mà tôi cũng không quên được cái mục tiêu “Xóm Đạo”. Tôi vạch kế hoạch hành quân, đích thân chỉ huy. Ba giờ sáng, tôi cho bốn chiếc ghe rải một trung đội Cảnh Sát Dã Chiến, Cảnh Sát Tư Pháp và một trung đội nghĩa quân hỗ trợ bao vây “Xóm Đạo”, lục soát. Thấy động, bọn đào binh và trốn quân dịch trong xóm ra ghe, chống một cái rét là ghe đã khuất sau xóm, sau đám sậy đế, ô rô, cóc kèn um tùm. Chúng tôi không dám bắn theo!

Thế là vừa công cốc, lại vừa hối hận vì sự tử tế của ông Chủ Chùa. Mới vui vẻ chuyện trò với ông ta, nay lại cho lính xuống “quậy” xóm ông. Sai thì tôi không sai, nhưng nghĩ cho cùng, mình cũng muối mặt thật. Chơi vậy mà chơi với ai, tôi nghĩ vậy.

Vì bực mình với đám trung ương, tôi chẳng thèm theo dõi vụ ông Đạo Sáu.

 

Khoảng năm 1981, khi ở trại tù cải tạo Xuân Lộc Z-30A, tôi và đại úy Bỉnh, nguyên là trưởng ban 2 Chi Khu Tri Tôn tỉnh Châu Đốc, chung một đội thợ mộc, tình cờ ngồi nói chuyện cũ, tôi nhắc lại chuyện ông Đạo Sáu, bí thư huyện Tri Tôn vô tới phủ Cây Tùng. Bỉnh hỏi tôi: “Anh cũng biết thằng cha nầy à?” Tôi mới nhắc lại vụ bản tin của ban Phụng Hoàng tỉnh Châu Đốc tôi lục trong Hồ Sơ Trận Liệt ra. Bỉnh làm trưởng ban 2 ở địa phương ấy, dĩ nhiên anh ấy biết rõ ông Đạo Sáu là ai.

Bỉnh nói: “Đang ở phủ Cây Tùng, không biết do đâu ông Đạo Sáu biết bị động, bỏ trốn. Khi “sập tiệm” (1), ông ta vào tiếp thu tỉnh Châu Đốc.”

Mấy người bạn tù ngồi chơi bên cạnh, nghe xong câu chuyện, có anh bực mình chưởi đổng: “Mất nước là phải. Đ. m. làm ăn chẳng ra con mẹ gì cả!” Tôi hy vọng rằng người bạn nóng tính chưởi câu đó là chưởi ai khác, không phải chưởi tôi.”

hoànglonghải

(1) Tiếng lóng, tù cải tạo thường dùng trong trại, để nói tới việc sụp đổ ngày 30 tháng Tư- 1975. Nó như một cuốn phim bị đứt vào ngày ấy, nên gọi là ngày “đứt phim”. Có khi gọi ngày ấy là “sập tiệm”. Nó như một tiệm chạp phô mà tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là ông chủ tiệm.

Một ông Hồ khác (tham khảo)

Một ông Hồ khác

Đôi giòng:  Bài của tác giả Cao Hữu Huân trên Blog VOA rất nên tham khảo

Thứ hai, 29/09/2014

‘Dân số vàng’ của Việt Nam còn đang ngái ngủ

Đính chính sai lầm về ‘Nam Hải’

Đôi giòng:

Nhân vào xem những ảnh chụp của hoạ sĩ A.C. La trên trang Tiếng Thông Reo ( hoạ sĩ kiêm nghệ sĩ nghiếp ảnh), với những ảnh chụp đẹp về ngôi nhà thờ nổi tiếng thế giới ở Montréal, kẻ mọn này cũng ngứa ngáy bấm máy, nhưng bấm ngay tại một phòng khách, để đua/ganh tài với nghệ sĩ nhiếp ảnh thực thụ A.C.La.  Mời quý bạn thưởng thức chút khả năng bấm máy của người viết những dòng này.  Thân mến. SĐ-NTC

 

139_4896 (Large)

Ông của cháu cũng là một nghệ sĩ hài...

Ông của cháu cũng là một nghệ sĩ hài…

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 486 other followers